Chương Trước/21Chương Sau

39 Manh Mối (Tập 4: Bước Vào Cõi Tử)

Chương 16

CHƯƠNG 16

AMY QUYẾT ĐỊNH sẽ không bao giờ xem kênh Animal Planet[1] nữa. Khi sống trong Animal Planet, thế giới ấy mất đi sự quyến rũ của nó.

[1] Kênh truyền hình của Mỹ về thế giới động vật hoang dã, thuộc Discovery Communications.

Nó chầm chậm rời khỏi bờ sông. Phía sau Amy, cây lá trông rất rậm rạp. Khi không có mặt trời, con sông khoác lên một màu nhờn nhờn, tối sẫm.

“Cá sấu có cú táp mạnh hơn bất kỳ loài động vật nào trên quả đất,” Dan nói. “350 ký trên một centimet vuông. Cái đó, xem nào, mạnh hơn cá mập trắng mười hai lần. Chúng di chuyển nhanh, kể cả trên đất liền. Nhưng cách tốt nhất để thoát thân là chạy thẳng về phía trước, chứ không phải chạy dích dắc. Chỉ việc chạy thật nhanh.”

“DAN! Khóa miệng lại ngay,” Amy ra lệnh.

“Chúng săn mồi về đêm. Chúng nấp trong bụi để rình mồi.”

“Chẳng giúp ích gì hết.”

“Cá sấu sẽ lôi chị xuống nước xoay chị vòng vòng với nó và nhấn chìm chị trước khi nó bắt đầu nhai chị rào rạo. Nếu chị may mắn ấy à? Chị chỉ phải hy sinh hai bàn tay đút vào hàm chúng và khép nó lại...”

“Dan, biến đi cho nước nó trong!”

“Em biến rồi đó!”

Một khoảng yên lặng ngắn ngủi. Phía bên kia con sông đen ngòm, ánh sáng của Luxor vẫn lấp lánh. Đằng sau chúng ở bờ phía Tây, những vị vua và nữ hoàng cổ đại đang yên giấc trên những vách đá vôi, các xác ướp vẫn chưa được phát hiện, những ngọn đồi là nơi trú ngụ cho linh hồn của họ. Chưa bao giờ Amy thấy có nhiều sao trên bầu trời như hôm nay. Lẽ ra đã là một đêm tuyệt đẹp nếu như Amy không phải lo sẽ bị hai hàm cá sấu ngấu nghiến lấy mình.

“Em chỉ đang cố gắng giúp chị mà,” Dan nói.

“Nếu gây chú ý ột chiếc thuyền nào đó sẽ có người trông thấy chúng ta,” Amy nói. Nó nhìn thấy được những ánh đèn đơn lẻ ở đuôi thuyền - những chiếc felucca, Theo đã gọi chúng như thế - trên sông. “Nói hò dô bằng tiếng Ả Rập như thế nào?”

“Em thì tin cái chữ hò dô đó là ngôn ngữ toàn cầu,” Dan nói. “Như là oái. Hoặc - chị đang đạp chân em kìa.”

“Toàn cầu ư?”

“Không, chị đang đạp chân em thật mà. Oái.”

Amy lui ra.

“Hò dô!” Giọng con bé nghe rất mỏng. Nó bị nuốt trọn bởi bóng tối. Amy cố gắng nhớ xem liệu cá sấu có săn mồi dựa vào tiếng động hay không. Nó quyết định không hỏi Dan.

“HÒ DÔ!” Amy la lớn. Những ngọn đèn bé tí trên các con thuyền vẫn giữ nguyên chỗ cũ, vẫn chậm chạp đong đưa. “Chà, Nellie và Theo rồi sẽ đi tìm chúng ta thôi,” Amy nói

“Làm sao mà tìm được?” Dan hỏi lại. “Khi Jonah đã cướp con thuyền mất tiêu rồi!”

“Họ sẽ thuê một chiếc khác, rồi...”

“Suỵt,” Dan giữ Amy lại.

“Tại chị mới vừa nói em im, nên...”

“Suỵt! Nghe nào.”

Amy chẳng nghe thấy gì. Rồi nó nghe tiếng quẫy nước đánh tõm một cái rất nhẹ.

Nó đông cứng người. “Em có thấy gì không?” Amy thì thào.

“Em nghĩ là em vừa thấy... hai con mắt,” Dan trả lời. “Ở ngoài kia kìa... chỗ đám sậy ấy. Cá sấu nằm dưới nước trước khi chúng tấn công...”

Amy nhìn theo. Nó cũng chẳng thấy gì cạnh đám sậy. Thứ Amy thấy chỉ là một khúc gỗ khổng lồ nằm cạnh bờ sông. Rồi Amy thấy khúc gỗ ấy có hai con mắt và một cái mũi. Con cá sấu xoay ngang, bắt đầu trườn về phía bờ.

“Cá-á-á...”

“Cái gì?”

“Cá-á-á-s-sấ...”

“Cá-á-á-s-sấ...”

Con cá sấu trườn vào bờ, và Amy quên mất phải làm thế nào để di chuyển. Trông nó giống như một con khủng long đang chuyển động. Một thứ gì đó rất nguyên thủy, độc ác và hau háu khát thèm thịt sống. Mỗi xung động xuất phát từ não Amy đều bị nỗi khiếp sợ làm đông cứng lại. Con vật há miệng. Amy sợ điếng người khi thấy có đến hàng trăm cái răng nhọn lởm chởm và bén ngót.

Cá sấu có cú táp mạnh hơn bất kỳ loài động vật nào trên quả đất

“Chạy đi!” Dan rít lên. Nó kéo tay Amy thật mạnh.

Amy luống cuống quay tròn, vấp ngã dúi dụi, rồi lại đứng lên được, chạy băng qua bờ sông để vào giữa hòn đảo. Cát muốn nuốt chửng giày Amy. Giống như nó đang chạy trong một cơn ác mộng vậy.

Amy ngoảnh đầu nhìn lại. Con cá sấu đang đuổi theo chúng!

“Đừng chạy dích dắc!” Dan la lớn.

Nhưng con bé đâu có chạy dích dắc. Mà nó đang vấp chân lia lịa. Chân con bé run đến độ nó chạy cũng không nổi nữa.

Cả hai xộc thẳng vào một bụi rậm, lần theo một con đường mòn len lỏi qua cây cối. Chiếc áo thun của Amy vướng vào một cành cây nhưng con bé đã xé toạc nó ra và tiếp tục chạy, hết nhảy qua rễ cây lại khom người dưới những cành lá.

Ngoài tiếng thở hồng hộc của chúng, cả hai còn nghe cả tiếng thùm thụp của con cá sấu lao trên đường. Tiếng xào xào khi cái đuôi to tướng của nó quật vào cây cối.

Bên dưới những lùm cây tối đến nỗi cứ như thể chúng đang chạy bên dưới một tấm khăn choàng đen. Tim Amy va thẳng vào lồng ngực. Amy đã nghe được hơi thở nóng ran của con quái vật. Nó có thể chồm đến từ phía sau trong khoảnh khắc, hất con bé vào không khí trước khi cặp hàm kia sẽ xé nó ra làm hai.

Con đường thình lình chấm dứt, trước mặt chúng là một bờ nước khác. Ánh trăng soi lấp lánh trên cát. Cứ như có ai đó vừa vặn hết đèn đóm lên vậy.

“Giờ đi đâu đây?” Amy hỏi Dan, xoay đầu ngó nghiêng xung quanh

Dưới mặt nước, một bóng người đang bước ra từ chỗ một cây cọ. Một người đàn ông, vận chiếc galabia trắng mà đàn ông Ai Cập thường mặc.

“Cứu chúng cháu với!” Amy thét lớn.

“Amy...” Dan ngăn lại ngay tức thì. “Hắn ta có một con dao.”

Ánh trăng rọi vào lưỡi dao ông ta đeo ở bên hông.

Amy quay lại. Phía đằng sau, trên con đường nó đã trông thấy cặp mắt màu xanh lá của con cá sấu đang trờ đến. Càng lúc càng nhanh hơn. “Mặc kệ,” Amy nói. “Đi nào!”

Cả hai chạy xuống bờ nước, về phía người đàn ông mang dao.

Dẫu sao vẫn khá hơn hai hàm răng cá sấu.

Người kia tra dao vào vỏ khi thấy hai đứa trẻ chạy đến. Con cá sấu lúc này đang lao dọc theo bờ nước. Thình lình ông ta quay đầu, đoạn nhoài người về một chiếc felucca nhỏ mà khi nãy chúng vẫn chưa nhìn thấy.

“Không, làm ơn chờ một chút! Làm ơn!” Amy òa khóc.

Ông ta nhảy lên thuyền một cách điệu nghệ và bắt đầu chèo đi. Amy khóc to hơn nữa. Nỗi khiếp sợ thắt chặt tim nó. Không còn hy vọng nào nữa. Không còn nơi nào để chạy thoát thân.

Nhưng người đàn ông lại chèo thuyền về phía chúng, chứ không phải chèo đi mất. Ông ta la lên điều gì đó bằng tiếng Ả Rập.

Chúng chạy đến chỗ ông, nhanh như chưa từng nhanh hơn trong đời. Cả hai băng qua mặt nước, cảm giác như chân chúng đã hóa thành chì. Con cá sấu đang đến gần mép nước. Nếu như con vật xuống nước, có nghĩa rằng cả hai sẽ rồi đời. Amy biết rõ điều đó. Con bé biết Dan cũng hiểu như vậy qua nét mặt hốt hoảng của thằng bé.

Người đàn ông nhoài người ra ngoài thuyền. Ông chộp lấy mép áo sơ mi của Dan bằng một tay, áo của Amy bằng tay còn lại. Amy thấy mình giống như một chú cá khi ông nhấc bổng hai đứa và quẳng lên thuyền.

Cả hai nằm trên con thuyền, thở hồng hộc. Cánh buồm căng lên đón cơn gió nhẹ lướt qua đều nghe thấy tiếng ùm khi con cá sấu lao xuống nước. Người đàn ông không nói gì. Miệng ông ta mím lại như một dòng kẻ nghiêm nghị khi ông với tay sang bánh lái.

Ông trở buồm, và con thuyền lướt trên mặt nước, tiến thẳng ra giữa sông. Họ bắt kịp dòng chảy và cuốn theo. Tất cả đều ngưng thở, đón chờ xem có bất kỳ động tĩnh nào gần con thuyền hay không.

Bất chợt, người đàn ông mỉm cười. Gật đầu với chúng. “Ổn rồi,” ông nói. “Ổn rồi.”

Toàn thân Amy đang run lên bần bật. Con bé nhìn Dan. Chúng đã cận kề với cái chết.

Con bé tì vào boong để ngồi thẳng lưng lên. Tay Amy chạm vào thứ gì đó ươn ướt, nhờn nhờn. Nó giơ tay lên nhìn xem đó là gì.

Máu.

Máu.

Cả hai đang ở giữa dòng sông Nile với một kẻ lạ mặt có một con dao to và máu me trên sàn.

“Chúng cháu... đến trong hòa b-bình,” Amy lắp bắp.

Người đàn ông cúi người về phía trước. Cái nhìn của ông ta vừa tăm tối vừa trống rỗng. Ông chìa bàn tay rắn chắc ra và chỉ vào Dan. Amy lao đến bên đứa em để bảo vệ nó. “Không!” con bé thét lớn.

“Đúng rồi!” ông ta cũng hét lên. “Tất đỏ[2]!”

[2] Tên một đội bóng chày của Mỹ.

“Cái gì... đ-đỏ?”

Ông chỉ vào chiếc áo thun Dan đang mặc. “Bos-ton. Vô địch thế giới năm 2004!” ông nói to. “Công viên Fenway!” Ông trỏ vào ngực mình. “Trận thứ hai!”

Dan ngồi dậy, chớp chớp mắt trong lúc những từ ngữ ông ta nói ra bắt đầu trở nên rõ ràng hơn. “Ông có xem trận đó sao? Tuyệt cú mèo!

“Curt Schilling[3]!”

“Manny Ramirez[4]!” Dan trở nên tươi tỉnh và quay sang Amy. “Bóng chày. Lại một ngôn ngữ toàn cầu khác.”

[3] Curt Schilling, sinh năm 1966, cựu vận động viên trong giải Bóng chày nhà nghề Mỹ. Ông từng chơi cho đội Red Sox ở Boston, là nơi Dan và Amy sinh sống.

[4] Manny Ramirez, sinh 1972, một vận động viên sân ngoài chuyên nghiệp lừng danh của Mỹ.

“Vậy còn con dao kia?” Amy rít lên.

“Chị không ngửi thấy mùi gì hay sao?” Dan đáp. “Ông ấy là một người đánh cá. Nhìn xem!”

Phải rồi. Giờ thì nó đã ngửi thấy. Bên cạnh Amy là một giỏ đựng cá. Ông ta đang rửa cá thì cả hai phát hiện ra ông.

“Đến Luxor?” ông hỏi. Giờ thì Amy đã đọc ra được sự thân thiện trong nụ cười của ông. Nó gật đầu.

Con sông có một màu xanh tối sẫm như mực. Amy cố gắng lấy lại nhịp thở bình thường khi tim nó đã đập chậm lại. Amy ngửa đầu ra sau. Nó trông thấy chòm Đại Hùng tinh trong muôn vàn các vì sao trên bầu trời. Một cảm giác thư thái tràn ngập cơ thể Amy. Từ đây, nó có thể nhìn thấy ánh trăng trên cát ở mạn Thebes của con sông. Trông như một cánh đồng tuyết trải dài đến các vách đá. Khi thuyền chạy, ánh sáng trên Đại đền Luxor tỏa ra lung linh.

“Tuyệt vời,” con bé thốt lên.

“Tuyệt vời,” người đánh cá lặp lại.

Rõ ràng, tuyệt vời cũng là một phần của ngôn ngữ toàn cầu.

***

Người đánh cá cho chúng xuống bến tàu gần đền Luxor. Bằng một cái cười rộng hết cỡ và cú vẫy tay cào thân thiện, ông nói to, “Bai bai, người Boston! Hẹn gặp lại hai chú cá sấu nhé!” rồi dong thuyền đi.

“Chúng tôi đến đây trong hòa bình?” Dan nhại lời chị nó. “Chị nghĩ ông ta là người Ai Cập hay người Hỏa tinh thế?”

Amy không nhịn được chuỗi cười khúc khích. “Làm sao mà chị biết được ông ấy là fan của đội Sox chứ?”

“Giờ chúng ta đi đâu nào?” Dan hỏi.

“Chắc là lúc này Theo và Nellie đã quay trở lại rồi,” Amy nói. “Có lẽ bọn họ đang chờ ở cảng. Ta sẽ phải giải thích vì sao con thuyền không còn nữa.”

Nhưng khi cả hai về đến cảng, con thuyền vẫn còn ở đó. Nellie và Theo đang ngồi trên boong dùng trà. “Hai đứa đi dạo sao?” Nellie thắc mắc.

Dan nhìn Amy. Amy nhìn Dan. Chúng có nên nhắc đến Jonah Wizard, vụ chiếm thuyền, con cá sấu, con dao lớn hay không? Và cả người đánh cá yêu đội Red Sox nữa chứ?

“Vâng,” Dan đáp. “Chúng em chỉ đi dạo một chút.”

Bỏ mặc Theo và Nellie trên boong nhâm nhi món trà sữa Ấn và ngắm bầu trời đêm, tụi nó đi xuống dưới.

“Ít ra thì Jonah đã trả lại con thuyền,” Amy nói với Dan.

“Ít ra thì Jonah đã trả lại con thuyền,” Amy nói với Dan.

“Ít ra thì hắn ta cũng lên đường đi Paris,” Dan đáp. “Vấn đề là, chúng ta sẽ phải đi đâu?”

“Chị cũng đang mải nghĩ đến điều đó đây. Khi ta ở Paris, chị đã xem lịch sử bảo tàng Louvre. Trước kia nó từng là một cung điện. Nên khi Drovetti viết cung điện L, có lẽ ông ấy muốn nói đến cung điện Louvre. Nhớ không nào, lão Bae kể rằng Drovetti đã gửi bức tượng Sakhet về Louvre, và một Ekat đã tìm cách mang nó về lại Ai Cập. Chị cá rằng chẳng có bức tượng Sakhet thứ tư nào hết. Xét cho cùng, ba tấm bản đồ đã chỉ cho ta lăng mộ Nefertari rồi. Giờ chúng ta chỉ phải sử dụng các chữ tượng hình để tìm ra nơi tiếp theo sẽ đến mà thôi.”

Dan cau mày. “Katherine chẳng giúp ích gì hết. Và Grace cũng thế!

“Ừm, Katherine đã nhắc đến Aswan trong bài thơ. Giza, Aswan, Thebes và Cairo, nhớ không? Chúng ta bắt đầu ở Cairo. Napoleon đã tìm ra bức tượng Sakhet đầu tiên trong một kim tự tháp ở Giza. Bức tượng thứ hai được Howard Carter tìm thấy trong lăng Hatshepsut ở Thebes. Aswan là thành phố duy nhất còn lại. Chị cược rằng đó là nơi ta sẽ tìm thấy manh mối cuối cùng.”

“Nhưng chúng ta không biết chắc chắn,” Dan cự lại. Bae đã tìm thấy bức tượng Sakhet thứ ba ở Cairo, nhưng đó là hàng trăm năm sau khi Katherine đã để lại nó ở một nơi nào đấy. Bức tượng có thể đã bị đánh cắp và bị buôn đi bán lại qua tay nhiều người. Có thể bức tượng đó cũng đến từ Aswan.”

“Có lẽ,” Amy lưỡng lự đồng tình với nó. “Em có nhớ Bae đã nói gì về Katherine khi bà ấy cảm thấy bị xem thường chỉ vì bà là phụ nữ không? Em chẳng nhận thấy rằng Katherine đã dẫn chúng ta qua hết tất cả nữ pharaoh, nữ hoàng và nữ thần của Ai Cập cổ đại sao? Sakhet, Hatshepsut, Nefertari. Thậm chí manh mối Giza cũng được tìm thấy trong kim tự tháp nữ hoàng.”

“Điều đó làm em nhớ một thứ.” Dan nhìn lại những chữ tượng hình. “Khi Theo hướng dẫn cho chúng ta, và cái đoạn Isis nắm tay Nefertari, nhớ không? Hình trên đầu Isis y hệt hình này.”

“Em cá chữ này có nghĩa là Isis.”

“Lại là một nữ thần!” Amy giở quyển sách. “Người Ai Cập cổ đại tin rằng khi Isis nghe tin chồng bà, Osiris, chết, nước mắt của bà đã khiến sông Nile tràn bờ - khiến vùng đất này trở nên màu mỡ cho nông nghiệp.” Amy ngẩng đầu lên, mắt sáng rực. “Kẻ kia làm cây trái tốt tươi bằng lệ tuôn dài!”

“Vậy còn chỗ Nơi con tim của kẻ người ấy yêu thương được tìm thấy thì sao”?

Amy tiếp tục đọc, nhịp tim mỗi lúc một nhanh hơn. “Osiris bị thần chiến tranh Seth giết và xé xác. Isis tìm thấy tim chồng mình trên đảo Philae. Đó là nơi đặt ngôi đền thờ bà.”

Dan trỏ một ngón tay vào từng chữ tượng hình. “Đảo. Isis. Cự thạch.

“Philae ở đâu?” Dan hỏi Amy.

“Chính là Aswan!” Amy reo lên. “Mọi thứ thế là đã rõ.” Nó đóng quyển sách ập một tiếng thật to. “Vấn đề là,” Amy nói tiếp, “chị không thể nhớ bà Grace đã viết gì về Aswan. Giá mà chúng ta đừng làm mất quyển sách ấy!”

“Chúng ta á?” Dan vặn lại.

“Okê, là chị,” Amy đỏ mặt vì giận dữ. “Nếu em muốn trách móc gì chị thì cứ việc.”

“À, nếu như chị cho em xem quyển sách, có lẽ chúng ta đã biết phải làm gì tiếp theo rồi,” Dan nói.

“Như vậy là bất công,” Amy nói. “Em đâu có thích nghiên cứu như chị.”

“Nhưng mà em có thể đọc,” Dan cay cú. “Và không giống như chị, em có thể nhớ. Chị thậm chí còn chẳng cho em liếc nhìn nó nữa là.”

“Lúc nào em chẳng nói nghiên cứu là chán òm.” Amy độp lại. “Làm sao mà chị biết được lần đầu tiên trong đời em muốn đọc một quyển cẩm nang chứ?”

“Đó không chỉ là một quyển cẩm nang. Đó là cẩm nang của Grace!” Dan cao giọng. “Chị muốn giữ hết mọi thứ Grace để lại cho riêng mình. Chị có sợi dây chuyền và giờ là bức tượng Sakhet... chị cũng chẳng bỏ nó ra nữa. Chị thậm chí còn muốn giữ ký ức cho riêng mình!”

“Không đúng,” Amy cãi lại. “Và như vậy cũng bất công luôn!”

“Ừ, Grace đâu phải là bà của một mình chị đâu, chị biết mà!” Mặt Dan đỏ tía lên. “Chị chỉ muốn giữ bà cho riêng mình thôi!”

“Đừng có kỳ cục như thế!” Amy thét lên. Nó cảm thấy mặt mình đang nóng lên. “Đó là điều ngu ngốc nhất mà chị đã từng được nghe!”

“Chị phải quyết định xem bà là người tốt hay xấu. Chị phải quyết định bà có thương yêu chúng ta hay không. Nếu chị nói với em rằng bà ngoại không thương em một tí nào, rằng bà là một kẻ vạch kế hoạch đầy gian ác, thì tốt nhất chị hãy dùng dẫn chứng mà chứng minh đi,” Dan nói giọng giận dữ. “Chị đang quá lo sợ rằng nếu chị mà mắc lỗi lần nữa thì chị lại bị quay lơ 180 độ chứ gì. Không phải vì Ian Kabra xấu xa thì tất cả mọi người đều xấu hết cả đâu nhé!”

Amy há hốc miệng vì sững sờ. Chưa bao giờ nó thấy Dan hành xử như thế này. Thằng bé từng gọi nó bằng những cái tên khác nhau, từng đánh nhau với nó, nhưng chưa bao giờ như thế này. Chưa bao giờ Dan chủ ý như thế cả. Lúc này trông Dan có vẻ hả hê chiến thắng, như thể nó vừa ghi bàn vậy.

Giống như điều con bé đã cảm thấy khi ở trong căn cứ Ekat, khi đã làm cho thằng em khóc.

Điều gì đang xảy ra với chúng thế này? Có phải đó chính là thứ mà các manh mối đang mang đến cho hai chị em nó không? Sự phản bội và bí mật là những điều bình thường mới. Những thứ ấy đang làm chúng bị méo mó tinh thần. Biến chúng thành những kẻ thù nghịch lẫn nhau.

Cả hai đang hành xử như những con người mà trước kia con bé chưa từng nhận ra. Những người nó chưa từng yêu thích.

Amy nhận ra rằng, chúng đang cư xử như những thành viên dòng họ Cahill.
Chương Trước/21Chương Sau

Theo Dõi