Chương 3
Ta ngồi vào trong xe, rèm hạ xuống, xe la lăn bánh.
Đầu chính sảnh loáng thoáng truyền tới tiếng của phụ thân, giống như đang gọi tên ta, lại giống như đang nói chuyện với Tạ Lẫm, nghe không rõ.
Tạ Lẫm vẫn còn đang đợi ta trở về.
Có lẽ hắn tưởng rằng, chỉ cần gọi một tiếng Triều Triều, ta sẽ lại mềm lòng như trước kia.
Xe la ra khỏi ngõ, rẽ lên đường cái quan.
Ta vén một góc rèm nhìn ngoái lại, mái ngói của Liễu phủ đã thu nhỏ thành một đường xám xịt.
Khi hắn vẫn còn đang đứng đợi trong chính sảnh, người của ta đã đi khỏi thành.
5
Tới Thanh Châu vào ngày thứ tư, ta mới ngủ được một giấc yên ổn.
Cữu cữu Thẩm Hoài Du đón ta ở bến đò, không hỏi nhiều, sắp xếp cho ta ở Tây sương phòng hậu viện, bảo cữu mẫu chuẩn bị thêm chăn nệm và y phục bốn mùa.
Người chỉ xem thư của mẫu thân và bản chép của tiệm thuốc, im lặng hồi lâu rồi bảo: “Chứng cứ đủ rồi, chuyện hòa ly cứ để cữu lo, con cứ yên tâm ở lại đây.”
Ta ở Tây sương ròng rã ba ngày, không đi đâu cả, mỗi ngày chỉ ngồi trong viện, ngắm dây nhẫn đông cữu mẫu trồng đang leo dọc theo chân tường, nở ra những bông hoa trắng li ti.
Ba ngày đó không có ai đến tìm ta, không có ai gọi ta về.
Ta bỗng cảm thấy, sự tĩnh lặng lại là một thứ tuyệt vời đến thế.
Ngày thứ năm, cữu cữu cầm một phong thư bước vào, vẻ mặt hơi khó xử.
“Phụ thân con viết tới.”
Ta nhận lấy xé ra, chữ trên thư viết vội vàng, nét bút ngoáy tít.
Đại ý nói Tạ Lẫm đã quỳ trước cổng Liễu phủ hai ngày, không ăn không uống, không chịu đi, hàng xóm láng giềng đều ra xem, thể diện của nhà họ Liễu mất sạch rồi.
Phụ thân bảo cữu cữu “mau chóng đưa Triều Ninh về”, nếu không nhà họ Liễu sẽ đoạn tuyệt qua lại với ta.
Ta gấp thư đặt lên bàn, không nói lời nào.
Cữu cữu đứng bên cửa một lúc: “Con nghĩ thế nào?”
“Chuyện hòa ly, bên Kinh Triệu Doãn đã làm đến bước nào rồi?”
“Văn thư đã đưa lên rồi. Bản chép sổ sách tiệm thuốc của con được dùng làm bằng chứng bổ sung, căn cứ cho chuyện ‘nghĩa tuyệt’ rất vững chắc, Kinh Triệu Doãn không có lý do gì để bác bỏ. Trần tình thư của Hầu phủ cữu cũng đã xem qua, không đứng vững được đâu.”
“Vậy thì cứ đợi.”
Cữu cữu gật đầu, không khuyên thêm.
Sau khi người đi ra, ta lại xem bức thư của phụ thân một lần nữa.
Trong từng dòng từng chữ không có một câu nào hỏi ta sống có tốt không, không hỏi ta có sợ không, cả bài chỉ có hai chữ “thể diện” và “đưa về” lặp đi lặp lại.
Tạ Lẫm quỳ ở cửa Liễu phủ, nghe qua thì giống như vở kịch lãng tử quay đầu.
Nhưng hai ngày hắn quỳ đó, bên phía Hầu phủ không có một chút động tĩnh nào, Lão phu nhân không phái người tới nói hòa, Chu ma ma không ra mặt giải thích về cuốn sổ nợ mười ba tháng mua thuốc kia.
Hắn quỳ là cửa nhà họ Liễu, thứ hắn cầu xin là để phụ thân ta khuyên ta quay về.
Hắn quỳ hai ngày, nhưng đã quỳ sai chỗ rồi.
Chạng vạng cữu mẫu bưng một bát cháo vào, ngồi đối diện ta, thuận miệng nhắc tới một chuyện.
“Hôm trước có người đến nha môn châu phủ nghe ngóng con, cầm danh thiếp của Hầu phủ, hỏi xem con có ở Thanh Châu không.”
Ta đặt bát xuống.
“Cữu cữu con đã sai người cản lại rồi, nói là không biết. Nhưng chuyện này không giấu được lâu, tay của Hầu phủ vươn rất dài, muốn tìm người ắt sẽ tìm được.”
Bà vỗ nhẹ lên mu bàn tay ta: “Đừng sợ, cữu cữu con làm Thông phán ở đây mười năm, người trong nha môn đều nể mặt ông.”
Ta gật đầu.
Hương nhẫn đông từ ngoài cửa sổ thoảng vào, nhàn nhạt, chẳng giống một chút nào so với mùi hoa Khổ Luyện.
Tạ Lẫm tìm đến Thanh Châu là vào ngày mười một tháng Bảy.
Hôm đó trời mưa, cữu cữu tiếp hắn ở tiền sảnh.
Ta ở Tây sương nghe thấy động tĩnh, không bước ra.
Cữu mẫu vào nói với ta, Tạ Lẫm gầy đi một vòng, vết thương ở chân vẫn chưa khỏi hẳn, dầm mưa ướt quá nửa người, chống nạng đứng trong tiền sảnh, trà cũng không uống, vừa mở miệng đã hỏi “Triều Triều có ở đây không”.
Cữu cữu không trả lời trực diện hắn, chỉ nói một câu: “Tạ Hầu gia, cháu gái ta đã dâng văn thư hòa ly nghĩa tuyệt, Kinh Triệu Doãn bên đó đã bắt đầu xét duyệt rồi. Ngài đến tìm con bé, xét về lý hay về pháp, đều không được thỏa đáng cho lắm.”
Tạ Lẫm không đi.
Cữu mẫu nói hắn ngồi ở tiền sảnh cả nửa canh giờ, lặp đi lặp lại chỉ nói một câu: “Cho ta gặp nàng ấy một lần.”
6
Cữu cữu từ chối.
Hắn ra khỏi tiền sảnh, không rời đi, mà cứ đứng bên ngoài tường viện, mưa cũng không màng tránh, nạng chống xuống đường đá, cách một bức tường nhìn vào bên trong.
Cửa sổ Tây sương đối diện thẳng với bức tường viện đó, qua màn mưa, ta có thể nhìn thấy bóng lưng của hắn.
Hắn nghiêng đầu, giống như đang dỏng tai nghe ngóng động tĩnh trong viện.
Nước mưa dọc theo cằm hắn chảy ròng ròng, vải áo trên vai ướt đẫm, chân đau hơi run rẩy.
Ta nhìn rất lâu.
Ngày trước ở Hầu phủ, mỗi lần hắn ở thư phòng đến tận đêm khuya, ta đều đợi dưới mái hiên bên ngoài thư phòng, có lúc cũng phải dầm mưa.
Ta đợi hắn bước ra nói với ta một câu, dù chỉ là một câu “về ngủ đi” cũng được.
Nhưng hắn chưa bao giờ mở cửa, chưa bao giờ đẩy cửa sổ, ngay cả đầu cũng chưa từng mảy may nghiêng qua.
Ta vươn tay đóng chặt cửa sổ.











