Chương 4
Khoảnh khắc cánh cửa đóng lại, ta thấy chân đau của hắn lại run rẩy một cái.
Không xót xa.
Thực sự không xót xa.
Chỉ là cảm thấy cảnh tượng này tới quá muộn màng, muộn tới mức ta đã không còn cần đến nữa.
Hắn đứng dưới mưa ròng rã một canh giờ, đến khi trời nhá nhem tối mới bị tùy tùng khuyên đi.
Sáng sớm hôm sau, cữu cữu đến Tây sương, bưng cho ta bát mì nóng hổi, vừa ngồi xuống vừa nhắc tới một chuyện khác.
“Ngày mai có nhi tử của một cố nhân tới bái phỏng, là Bùi công tử Bùi Chiêu của nhà họ Bùi, phụ thân nó là bạn cũ của cữu cữu, năm xưa từng sát cánh ở biên ải,” Cữu cữu dừng lại một chút, “Năm ngoái nó đã được thăng làm Du kích Tướng quân, nay phụng mệnh về kinh thuật chức, đi ngang qua Thanh Châu.”
Ta gật đầu, không mấy bận tâm.
Cữu cữu lại bổ sung thêm một câu: “Hồi nhỏ nó từng tới Thanh Châu, lúc con năm sáu tuổi còn từng cùng nó đi thả diều đấy, chắc con không nhớ đâu.”
Quả thực ta không nhớ.
Ngày Bùi Chiêu tới là một ngày trời quang tạnh ráo.
Chàng trẻ hơn ta tưởng, dáng vẻ tầm khoảng hai mươi ba hai mươi tư, thân hình cao lớn, cử chỉ trầm ổn, bước vào cửa trước tiên hành lễ vãn bối rất ngay ngắn mực thước với cữu cữu, sau đó mới an tọa ở ghế khách.
Chàng không cố ý nhìn ta nhiều, chỉ hơi khom người một chút khi cữu cữu giới thiệu, gọi một tiếng “Liễu cô nương”.
Trên bàn cơm ngày hôm đó, cữu mẫu chuẩn bị sáu món ăn, mấy người ăn trong yên lặng.
Bùi Chiêu không nói nhiều, thỉnh thoảng đỡ lời cữu cữu, giọng điệu không cao không thấp, không tranh giành cũng không lảng tránh.
Giữa bữa ta lơ đãng một lúc, đũa gác trên mép bát mà quên không gắp, lúc hoàn hồn lại, bát canh trước mặt đã được đẩy lại gần thêm hai tấc.
Là Bùi Chiêu đẩy tới, tay đã thu về, tựa như một chuyện vặt vãnh căn bản không đáng để lưu tâm.
Ăn xong cữu cữu giữ Bùi Chiêu uống trà trong viện, ta vốn định quay về sương phòng, lúc đi dưới hiên, thấy gốc cây hoa Khổ Luyện ở góc viện đã bị di chuyển vị trí.
Vốn dĩ được trồng ở chỗ khuất nắng chân tường, nay đã được dời đến dưới cửa sổ Tây sương, ánh nắng vừa vặn chiếu tới, nụ hoa so với mấy hôm trước đã căng mọng hơn nhiều.
Ta hỏi lão bộc quét dọn sân viện xem ai là người dời đi.
“Là Bùi công tử sáng sớm tới đã dặn dò, nói cây này phải dời ra chỗ đón nắng mới phát triển tốt, ngài ấy còn đích thân bê qua đó.”
Chàng chưa từng hé răng với ta về chuyện này.
Ngày hôm sau Bùi Chiêu lại tới, mang theo một cuốn sách cổ “Thảo Mộc Kinh Chú”, nói là mò mẫm tìm được ở một tiệm sách cũ ngoài biên ải, nghe cữu cữu nói ta hiểu đôi chút về hương liệu dược thảo, nên mang đến cho ta lật xem.
Chàng đặt sách lên bàn rồi rời đi ngay, không đợi ta nói lời tạ ơn, cũng không đợi ta mở ra xem.
Cữu cữu giữ chàng lại ăn cơm trưa, trong bữa nhắc tới dự định sau này của ta.
Bùi Chiêu bỗng quay đầu lại, nhìn ta hỏi một câu: “Liễu cô nương muốn đi đâu?”
7
Chàng hỏi là *ta* muốn đi đâu, không phải phụ thân ta bắt ta đi đâu, cũng không phải Hầu phủ muốn ta trở về đâu.
Ta ngẩn người, vậy mà lại không đáp được.
Buổi chiều cữu cữu có việc ra ngoài, Bùi Chiêu cùng ta dạo bước một đoạn trong viện, lúc đi qua bờ đê, chàng đứng ở đầu cầu che cho ta một luồng gió tạt thẳng vào mặt, không nói lý do.
Ta thuận theo lan can cầu nhìn ra xa, dưới tán liễu bên kia sông có một người đang đứng.
Là Tạ Lẫm.
Hắn vẫn chưa đi.
Hắn đứng sau cây liễu, cách một con sông nhìn ta và Bùi Chiêu.
Hắn gầy sọp đi, trên mặt không nhìn ra được biểu cảm gì, cứ đứng bất động như thế.
Bùi Chiêu cũng nhìn thấy.
Chàng không nói lời nào, cũng không nhắc nhở ta, chỉ điềm nhiên lùi sang nửa bước, vừa vặn dùng bóng lưng che khuất cho ta, rồi giơ tay giúp ta vuốt lại dây lụa trên mũ duy mạo bị gió thổi tung.
“Gió lớn rồi, Liễu cô nương, về thôi.”
Lúc chàng xoay người, tấm lưng phẳng lặng đã chặn lại toàn bộ mọi ánh nhìn từ bên kia bờ sông.
Tạ Lẫm chặn ta lại vào chạng vạng ngày thứ hai.
Sau viện của cữu cữu có một rừng trúc, chiều chiều ta vẫn hay ra đó đi dạo một vòng.
Hắn cứ thế đợi ở bậc đá lối vào rừng trúc, nạng tựa bên đầu gối, cả người nhìn giống như đã ngồi rất lâu.
“Triều Triều.”
Ta dừng bước.
Hắn chống nạng đứng dậy, gầy hơn cả lần trước đứng dưới mưa, gò má nhô cao, hốc mắt trũng sâu.
Lúc hắn mở miệng giọng nói đã khàn đặc.
“Nàng không muốn gặp ta, ta biết. Nhưng có những chuyện nàng không nghe ta nói hết, sau này ta không còn cơ hội nữa.”
Ta không rời đi, cũng không ngồi xuống.
Hắn liền cứ thế đứng theo.
“Trong tay Triệu di nương có nắm một món nợ cũ,” Hắn nói rất chậm, từng chữ đều mang theo sức nặng, “Quân công mà phụ thân ta báo cáo năm xưa có một nửa là khống, hồ sơ lưu trữ ở Binh bộ đã bị Triệu di nương lấy được. Chuyện này nếu đâm toạc ra, tước vị của nhà họ Tạ, tổ nghiệp, kéo theo tiền đồ của mấy chục nhân mạng trong tộc, tất thảy đều sụp đổ.”
Hắn khựng lại một lúc, siết chặt đầu nạng.











