Chương 2: 152 Chương 2
Vài ngày sau đó, tôi không ăn cơm nhà họ Triệu, chỉ uống nước lã. Bà Châu mỗi bữa đều để mâm cơm ngoài cửa, không hề ép uổng. Triệu Đại Trụ cũng tuyệt nhiên không bước vào phòng, đêm đêm tôi nghe tiếng anh ta ho khù khụ ngoài nhà kho, lạnh đến mức trở mình cũng nghe tiếng ván giường rung rẩy.
Đến sáng ngày thứ năm, tôi kiệt sức ngất xỉu giữa sân.
Khi tỉnh lại, bà Châu đang ngồi bên giường, dùng thìa bón từng chút nước cơm cho tôi. Mắt bà sưng đỏ, miệng lẩm bẩm: “Con bé ngốc này, có hận đến mấy cũng phải sống đã chứ. Con người phải sống thì mới có đường đi.”
Tôi quay mặt đi, nước mắt chảy dọc thái dương thấm ướt gối. “Con hết đường rồi.”
Bà Châu nắm lấy tay tôi. Lòng bàn tay bà thô ráp, chai sần, nhưng rất ấm.
“Có.”
Tôi nhắm mắt lại. Tôi không tin.
Lúc đó tôi vẫn chưa biết, con đường mà bà nói, lại bắt đầu từ chính cuốn sách Toán rách nát dưới đáy vali của tôi.
02
Nhà họ Triệu nằm ở tận cùng xóm Đông của làng. Căn nhà cấp bốn đơn sơ, một mái bếp lụp xụp, một kho chứa củi, ngoài sân có cái giếng, cạnh giếng buộc một con lợn đen nhánh.
Từ lúc tôi bị gả đến, người trong làng lúc nào cũng chờ xem trò vui. Có mấy thím cố tình xách rổ may vá ra ngồi hóng mát gần cửa, nói móc mỉa thật to: “Con dâu nhà có học đúng là cành vàng lá ngọc, mới về mấy hôm đã bắt mẹ chồng hầu hạ.”
“Con gái thời nay tâm cao khí ngạo, bỏ đói vài hôm là ngoan ngay.”
Cũng có người khuyên bà Châu: “Con dâu bà không hiểu chuyện, phải ép nó xuống. Mới về đã làm mình làm mẩy, sau này còn coi ai ra gì?”
Bà Châu vắt ráo chiếc áo đang giặt lên dây phơi, đầu không thèm ngoảnh lại: “Chuyện nhà tôi, tôi tự biết tính.”
Mấy người kia cụt hứng, bĩu môi bỏ đi.
Tôi nấp trong phòng, qua khe cửa nhìn bà. Lưng bà đã hơi còng, tóc điểm bạc, nhưng làm lụng thì thoăn thoắt. Bà không ép tôi gọi mẹ, cũng không bắt tôi ra đồng làm việc. Nhưng tôi thừa biết nhà họ Triệu chẳng khá giả gì. Bao gạo trong bếp đã vơi đến đáy. Mỗi bữa cháo bà bưng cho tôi đều đặc hơn, còn bát của bà thì loãng thếch đến mức soi gương được.
Triệu Đại Trụ lại càng hiền lành đến mức quá đáng. Ban ngày anh ta đi làm thuê, đêm về chui vào kho củi. Có lần trời mưa, kho dột, nửa đêm tôi nghe anh ta thì thào bảo bà Châu: “Mẹ, không sao đâu, con lót thêm mớ rơm là được, đừng làm ồn kẻo cô ấy tỉnh.”
Bà Châu mắng: “Mày là sắt đá hả? Mai còn phải đi làm.”
Đại Trụ giọng đờ đẫn: “Cô ấy đang buồn, con không thể làm cô ấy sợ thêm được.”
Ngồi trên giường, tôi bấu chặt lấy mép chăn.
Tôi không muốn mềm lòng. Họ không thèm hỏi ý kiến tôi mà đã nhúng tay vào, đó là lỗi của họ. Nhưng trái tim con người đâu phải làm bằng đá.
Đến ngày thứ bảy, cuối cùng tôi cũng húp cạn bát cháo bà Châu bưng vào.
Lúc bà vào dọn bát, thấy cái bát trống không, bà sững sờ mất nửa ngày. Bà cười, nhưng lại sợ cười lộ liễu quá, chỉ cúi đầu hỏi: “Mẹ lấy thêm cho con chút nữa nhé?”
Tôi lắc đầu: “Đủ rồi ạ.”
Bà như bắt được tin hỉ, bước chân đi ra ngoài cũng nhẹ bẫng.
Đêm đó, tôi lần đầu tiên mở lại chiếc túi vải của mình.
Chiếc áo đỏ bị tôi vò nát một góc, bên dưới đè lên cuốn sách Toán. Mép sách xoăn tít, bên trong kẹp một mẩu tin cắt từ báo cũ: Thi đại học, không màng xuất thân, tuyển chọn người tài.
Những chữ này tôi đã nhẩm đi nhẩm lại trong đầu vô số lần. Vốn dĩ tôi đã nhờ thầy giáo hỏi giúp mẫu đơn đăng ký. Nhưng mẹ tôi bảo em trai cần tiền xây nhà, nhà đang thiếu tiền, không cho tôi lên thị trấn nữa. Sau đó, bà lừa tôi đi ăn cỗ.
Nghĩ đến đây, nước mắt tôi rơi xuống trang sách, nhòe đi một nét chữ.
“Vẫn đang đọc sách à?”
Bên ngoài đột nhiên vang lên tiếng bà Châu.
Tôi hoảng hồn nhét vội cuốn sách vào túi. Cửa chưa khép kín, bà bưng rổ đồ may vá đứng ngoài, vừa vặn nhìn thấy động tác của tôi.
Tim tôi thót lên tận cổ. Ở nhà đẻ, mẹ tôi ghét nhất là thấy tôi đọc sách. Bà bảo chữ nghĩa không luộc lên mà ăn được, đọc nhiều chỉ sinh hư, không chịu yên bề gia thất. Có lần bà phát hiện tôi chong đèn học bài giữa đêm, liền thổi tắt phụt đèn rồi ném vở của tôi thẳng vào bếp lửa. Tôi lao vào giành lại, mu bàn tay bị bỏng một mảng phồng rộp. Từ dạo đó, tôi học được cách giấu sách đi.
Bà Châu bước vào, ánh mắt dừng lại ở chiếc túi. Tôi theo bản năng ôm chặt cái túi vào lòng: “Đây là đồ của con.”
Bà dừng bước, không tiến lại gần: “Mẹ không cướp.”
Căn phòng chìm vào tĩnh lặng, chỉ còn nghe tiếng bọ lách tách húc vào bóng đèn. Một lát sau, bà hỏi: “Trước đây con từng đi học à?”
Tôi không đáp.
Bà lại hỏi: “Học đến lớp mấy?”
Tôi cắn môi: “Cấp ba.”
Bà Châu hít một ngụm khí lạnh, như thể vừa nghe thấy chuyện gì tày đình lắm: “Cấp ba cơ à.” Bà đọc chậm rãi hai chữ đó. Bà không biết chữ, đi chợ có khi còn phải nhờ người ta tính tiền hộ. Ở cái làng nghèo này, học sinh cấp ba còn hiếm hơn cả xe máy.
Tôi tưởng bà sẽ nói, học cấp ba thì đã sao, cũng gả về vùng quê này thôi. Nhưng bà chỉ ngồi bên mép giường, vò vò vạt áo: “Thế con đi học chắc là vất vả lắm.”
Sống mũi tôi cay xè. Chưa từng có ai nói với tôi câu đó. Người ta chỉ bảo tôi không hiểu chuyện, tốn cơm tốn gạo, bảo con gái học nhiều vô dụng. Không ai nói rằng, tôi rất vất vả.
Tôi cúi gầm mặt nhìn túi sách, hồi lâu mới thốt lên: “Thầy giáo bảo thành tích của con tốt, nếu ôn thi lại, có thể đậu.”
Mắt bà Châu sáng lên: “Đậu cái gì?”
“Đại học.” Khi tôi nói ra hai chữ đó, giọng nhỏ như tiếng muỗi kêu.
Nhưng bà Châu nghe thấy. Giỏ kim chỉ trên tay bà trượt xuống, chiếc đê khâu lăn lóc đến chân tôi. Bà cúi xuống nhặt, tay run run: “Đại học à.”
Bà ngẩng lên nhìn tôi, vẻ mặt vô cùng phức tạp: có kinh ngạc, có xót xa, lại có một sự kính trọng không sao diễn tả được. “Đó là người có tiền đồ lớn.”
Tôi cười khổ: “Vô ích rồi.”
“Sao lại vô ích?”
“Con đã lấy chồng rồi.” Câu nói ấy như cái dằm đâm nhói ngực tôi. “Nhà mẹ đã tiêu tiền sính lễ, mẹ con sẽ không để con về làm thủ tục thi. Làng cũng sẽ không cho một đứa con gái mới đi lấy chồng đi học. Hơn nữa, ôn thi cần sách vở, cần thời gian, cần tiền.”
Bà Châu không đáp ngay. Bà bước lại gần bàn, vặn sáng ngọn đèn lên một chút, rồi quay lại nhìn tôi: “Triệu Thu, con nói thật cho mẹ nghe.”
Tôi cảnh giác ngước lên.
Bà chậm rãi hỏi: “Con vẫn muốn học nữa không?”
Tim tôi đập thình thịch. Tôi không dám trả lời. Tôi sợ bà đang thử lòng, sợ tôi vừa gật đầu thì ngày mai bà sẽ giao cuốn sách của tôi cho Đại Trụ để anh ta quản chế tôi. Tôi đã nhìn thấy quá nhiều gương mặt như thế. Lúc đầu thì dịu dàng, cuối cùng đều chốt lại một câu: Đàn bà con gái đừng mơ mộng viển vông.
Bà Châu nhìn thấu nỗi sợ của tôi. Bà không ép, chỉ nhặt chiếc đê khâu lên bỏ lại vào giỏ: “Hồi trẻ, mẹ cũng muốn biết chữ.” Bà hướng mắt nhìn ra ngọn núi đen kịt ngoài cửa sổ. “Lúc ấy nhà nghèo, ông ngoại con bảo, lũ vịt trời chỉ cần biết viết tên mình là đủ. Mẹ còn chưa được bước qua cổng trường. Sau này lấy chồng, sinh Đại Trụ, cả đời quẩn quanh bên góc bếp và mảnh ruộng.”
Bà mỉm cười, một nụ cười đắng chát: “Mẹ không biết đại học mặt mũi ra sao, cũng không biết thi đậu thì làm được gì. Nhưng mẹ biết, một người có con đường trong tim mà bị người ta kéo giật lại, mùi vị đó khó chịu lắm.”
Cổ họng tôi nghẹn đắng.
Bà Châu đứng dậy: “Con ngủ đi.” Bà bước ra cửa, rồi khựng lại. “Sách đừng giấu nữa. Thích học thì cứ học, tiền điện mẹ lo.”











