Chương 33: 152 Chương 33
Mời Quý độc giả CLICK vào LIÊN KẾT HOẶC ẢNH bên dưới
Mở ứng dụng shopee - Chỉ 1 lần duy nhất để tiếp tục đọc toàn bộ chương truyện!
Đội ngũ chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
Sau biến cố ấy, Lương Mai như biến thành một người khác. Cô ta vứt bỏ hoàn toàn cái mác “chỉ huy lâm thời” hống hách ngày trước. Vẫn tháo vát, nhanh nhẹn, nhưng đã biết lắng nghe người khác. Bốn đứa chúng tôi gắn bó như hình với bóng, thường xuyên rủ nhau lên thư viện cày cuốc. Tôi nghiền ngẫm Văn học Cổ đại, cô ấy luyện Văn học Hiện đại, Trần Quế Phân vật lộn với kỹ năng viết, còn Bạch Tuệ thì chuyên tra từ điển giúp cả bọn.
Những lúc học hành mệt mỏi, Lương Mai lại thì thầm hỏi tôi: “Cậu có nhớ nhà không?”
Tôi đáp: “Nhớ chứ.”
“Thế có nhớ chồng không?”
Tay cầm bút của tôi khựng lại. Câu hỏi này, khó trả lời hơn cả hỏi có nhớ nhà không. Tôi nhớ lại cảnh Triệu Đại Trụ cặm cụi đóng hòm gỗ cho tôi, nhớ lúc anh đứng bần thần trước cửa xe bảo sẽ chờ thư tôi, nhớ cả lúc đầu gối anh rách bươm rỉ máu nhưng đôi tay vẫn nâng cao tờ giấy chứng nhận quá đầu.
Tôi nhẹ giọng đáp: “Nhớ họ.”
Lương Mai nghe hiểu, không gặng hỏi thêm lời nào.
Trước khi lập đông, thành phố đón trận tuyết đầu mùa. Tuyết phủ kín những tán cây trong trường, sân vận động trắng xóa một màu. Tôi chưa từng thấy tuyết rơi dày đến thế, cứ đứng ngây người dưới lầu ký túc xá ngắm nhìn rất lâu.
Đúng hôm đó, một bức thư từ xóm Hạnh Hoa gửi tới.
Bà Châu kể, ở nhà mọi việc đều ổn. Đại Trụ khoe chuồng lợn đã bắt lợn con mới về nuôi rồi, bảo tôi đừng bận tâm. Nhị Nha tíu tít khoe kỳ thi cuối kỳ con bé đứng nhất lớp, thím Mã vừa may cho một cái túi sách mới tinh. Trong phong thư còn kẹp theo một chiếc lá hạnh sấy khô ép phẳng.
Cô giáo Diệp nắn nót viết thay một dòng: “Mẹ bảo, trên thành phố tuyết lớn, con nhớ mặc cho ấm. Mùa xuân xóm Hạnh Hoa hoa sẽ nở, con cứ thong thả mà học, hoa đợi con, và người cũng đợi con.”
Tôi kẹp chiếc lá hạnh vào giữa cuốn giáo trình, giọt nước mắt lặng lẽ thấm ướt mép giấy.
—
Ba năm sau, tôi tốt nghiệp loại xuất sắc và chọn về trường Sư phạm huyện làm giáo viên.
Tôi không ở lại thành phố. Rất nhiều người không hiểu quyết định này.
Cô Hà hỏi tôi: “Em nghĩ kỹ thật rồi chứ?”
Tôi đáp: “Em nghĩ kỹ rồi ạ. Em muốn ở gần xóm Hạnh Hoa một chút.”
Cô mỉm cười gật đầu: “Đó cũng là một con đường.”
Ngày nhận bằng tốt nghiệp, Đại Trụ và bà Châu đều đến. Bà Châu diện bộ áo khoác xanh mới may, tóc chải chuốt gọn gàng. Đứng ngoài cổng trường, vừa thấy tôi xúng xính trong bộ lễ phục cử nhân, nước mắt bà lã chã tuôn rơi.
“Mẹ!” Tôi lao tới ôm chầm lấy bà.
Bà vuốt ve nếp áo trên tay tôi: “Bộ quần áo này đẹp quá con ạ.”
Triệu Đại Trụ đứng cạnh, tay xách một giỏ trứng gà, bộ dạng luống cuống không biết giấu tay vào đâu. So với mấy năm trước, anh đen hơn, nhưng cũng chững chạc hơn nhiều. Tôi nhìn anh, chợt bật cười:
“Triệu Đại Trụ, anh còn đợi thư của tôi nữa không?”
Anh ngẩn người.
Bà Châu đứng cạnh hích cùi chỏ vào người anh: “Đứng ngây ra đấy làm gì, mở miệng nói đi chứ.”
Hai tai anh đỏ lựng: “Đợi. Lúc nào cũng đợi.”
Tôi lấy từ trong túi xách ra một tờ giấy. Không phải là đơn xin ly hôn. Mà là mẫu đơn xin phân nhà ở tập thể của trường Sư phạm huyện. Tôi đưa nó cho anh.
“Nhà trường có chính sách cấp nhà ở cho cả giáo viên độc thân lẫn đã kết hôn. Tôi vẫn chưa điền mục tình trạng hôn nhân.”
Bàn tay anh sững lại giữa không trung: “Triệu Thu, ý cô là…”
Tôi nhìn sâu vào mắt anh: “Năm xưa cuộc hôn nhân kia không phải do tôi chọn. Nhưng bây giờ, tôi muốn tự mình chọn một lần. Anh có nguyện ý làm lại từ đầu, sống chung với tôi không? Lần này, không có tiền sính lễ, không có sự lừa gạt, là tự đáy lòng tôi muốn hỏi anh.”
Hốc mắt anh đỏ hoe, gật đầu thật mạnh: “Tôi nguyện ý.”
Về sau, chúng tôi không tổ chức lại tiệc cưới. Chỉ ra tiệm ảnh trên huyện chụp một tấm hình gia đình. Trong ảnh, bà Châu ngồi ở giữa, tôi và Đại Trụ đứng hai bên. Tay bà nâng niu tấm bằng tốt nghiệp của tôi, miệng cười tít cả mắt.
Việc đầu tiên tôi làm khi nhận tháng lương đầu tiên là mua cho bà Châu một chiếc vòng tay bằng bạc.
Bà nhất quyết không chịu nhận: “Mẹ hay làm nông, đeo cái này vướng víu lắm.”
Tôi tự tay đeo vòng vào cổ tay bà: “Đây là chút lòng thành của con gái báo hiếu cho mẹ.”
Bà sững sờ rất lâu, rồi vuốt ve chiếc vòng, khẽ nói: “Vậy thì mẹ nhận.”
Việc thứ hai, tôi quyên tặng cho trường tiểu học xóm Hạnh Hoa một tủ sách. Cuốn sách Toán rách bươm năm nào cũng nằm trong đó. Trên trang bìa lót, tôi nắn nót viết một dòng chữ:
Dành tặng cho bất kỳ cô gái nào khao khát muốn bước ra thế giới bên ngoài.
Rồi sau này nữa, Nhị Nha thi đậu trường trung cấp. Ngày nhận giấy báo trúng tuyển, con bé ôm chầm lấy tôi khóc nức nở: “Chị Triệu Thu ơi, em cũng bước ra được rồi.”
Vỗ nhè nhẹ vào lưng em, tôi chợt nhớ về hình ảnh chính mình năm xưa, co ro dưới ngọn đèn dầu mờ ảo mà không dám cất lời xin được đi học. Hóa ra, khi một người phụ nữ được nâng đỡ bước qua vũng lầy, họ thực sự có thể vươn tay ra nâng đỡ một người phụ nữ khác.
Khi bà Châu về già, bà thường thích ngồi sưởi nắng ngoài sân. Bà rất hay kể cho đám trẻ con nghe chuyện năm xưa mình đã bán lợn nuôi con dâu thi đại học. Tụi nhỏ nghe mà mắt sáng rỡ.
Có đứa trẻ tò mò hỏi: “Bà Châu ơi, lúc đó bà không sợ bán lợn mà mất trắng ạ?”
Bà mỉm cười móm mém: “Lợn không mất đi đâu con ạ. Lợn đổi thành sách, rồi sách lại đổi thành cả một cuộc đời con người.”
Đứng tựa cửa lớp học nghe lỏm câu nói ấy, hốc mắt tôi vẫn không kìm được mà nhòe đi.
—
Mùa xuân năm 1978, mẹ đẻ lừa tôi đi ăn cỗ. Tôi từng ngỡ đó là điểm ngõ cụt tăm tối nhất cho cuộc đời mình.
Nhưng mãi sau này tôi mới thấu hiểu, có những con đường không phải tự nhiên mà có. Đó là nhờ một ai đó đã cắn răng chịu đựng, bán đi con lợn giống duy nhất, thắp lên ngọn đèn leo lét giữa đêm đông, và hỏi bạn một câu:
“Con gái, con có còn muốn đi học không?”
Tôi đã nói: có.
Và thế là, cả phần đời rực rỡ của tôi, đã thực sự tái sinh từ khoảnh khắc ấy.
Hết.











