Dùng phím hoặc A D để chuyển chương
✦ ✦ ✦

1

Nhà triển lãm người qua kẻ lại tấp nập. Ánh đèn sân khấu tập trung xoáy sâu vào bức tranh sơn dầu khổng lồ mang tên 《5:42 AM》 đặt giữa sảnh.

Đó là khoảnh khắc “Giờ xanh” (Blue hour) trên biển mà tôi và Tạ Bắc Khang đã cùng chứng kiến trong chuyến tuần trăng mật ba năm trước. Để tái hiện được sắc xanh Ultramarine tĩnh mịch, huyền ảo của giây phút rạng đông ấy, tôi đã dùng hết sạch hai hộp màu từ đá Thanh Kim quý giá.

Thầy chủ nhiệm khoa ung dung tiến lại gần, ánh mắt tìm kiếm xung quanh:

“Nhược Di, em cứ nhìn ra cửa suốt thế, còn ai chưa đến à?”

Mấy đồng nghiệp liếc mắt nhìn nhau, xì xào bàn tán:

“Chắc là đợi ‘vị nhà kia’ đấy. Nghe bảo hôm nay Nhược Di định giới thiệu người nhà với mọi người mà.”

“Triển lãm sắp kết thúc tới nơi rồi, người đâu?”

“Mấy lần tụ tập đều bảo bận, mà bận đến mấy cũng không lẽ không đưa đón được lấy một lần. Chắc tình cảm cũng chẳng mặn mà gì đâu.”

Tôi siết chặt điện thoại, đầu ngón tay trắng bệch. Thật ra, không phải tôi nhất thiết bắt Tạ Bắc Khang phải đến. Chỉ là tuần trước ở nhà cũ, em gái anh là Tạ Bắc Diểu — đang theo học tại Học viện Mỹ thuật — có nhắc đến chuyện này.

Tạ Bắc Khang khẽ chạm vào góc thiệp mời của cô bé, ngắm nghía một hồi. Khi ánh mắt chạm vào hình ảnh thu nhỏ của bức 《5:42 AM》 trên bìa thiệp, anh đột nhiên lên tiếng:

“Để lại cho tôi một tờ đi. Tiện thể thứ Tư tôi có cuộc họp gần đó, sẵn đường ghé qua.”

Lần cuối cùng chúng tôi cùng xuất hiện công khai là buổi phỏng vấn tạp chí từ tận năm kia. Chỉ vì một câu “sẵn đường” của anh, tôi đã gạt phách đề nghị của giám tuyển, khăng khăng dời bức tranh mang tính riêng tư cực mạnh này vào vị trí trung tâm sảnh chính. Tôi thậm chí còn tự tay điều chỉnh lại đèn rọi trên trần, chỉ để khi ánh sáng phủ lên người anh, nó sẽ trùng khớp hoàn hảo với ánh bình minh trong tranh.

Thế nhưng lúc này đây. Cửa cảm ứng mở ra hết lần này đến lần khác, tràn vào chỉ có làn gió bốt của trời cuối thu. Lối vào vốn ồn ào giờ trở nên vắng lặng, chỉ còn lại nhân viên đang dọn dẹp những dải ruy băng trên sàn.

Màn hình điện thoại vụt sáng. Tôi rũ mắt, nhìn trân trân vào tấm thiệp mời được để dành riêng kia. Bỗng nhiên thấy sắc xanh trong bức tranh này… dường như được pha quá lạnh lẽo rồi.

2

Rạng sáng, phòng khách đèn đuốc sáng trưng. Tạ Bắc Khang đang tựa vào sofa xem báo cáo tài chính, nghe thấy tiếng động, anh khẽ ngước mắt:

“Về rồi à?”

“Vâng.”

Tôi thay giày cao gót, chẳng còn sức lực để hỏi tại sao anh lỡ hẹn. Không hỏi tại sao anh không nghe máy. Càng không muốn hỏi: Vợ mình đêm muộn chưa về, Tạ tổng chẳng lẽ không lo lắng chút nào sao?

Thật ra, triển lãm đã kết thúc từ lâu. Lúc ra về, có đồng nghiệp vì chồng đến đón muộn mà nổi giận tắt máy, người chồng kia cuống cuồng đi tìm khắp nơi. Lúc tìm thấy thì thở phào nhẹ nhõm, vừa đỡ túi vừa cười xòa dỗ dành cô gái lên xe.

Thế là tôi nhận lời đi tụ tập với bạn bè. Bởi vì khoảnh khắc đó, tôi bỗng bướng bỉnh muốn biết: Cảm giác được người khác nhớ nhung, được người khác lo lắng tìm kiếm, được người khác bao bọc lấy cảm xúc của mình… rốt cuộc là như thế nào.

Tôi tự nhốt mình trong quán bar náo nhiệt đó suốt ba tiếng đồng hồ. Tôi nghĩ: Anh ấy bận rộn, có thể quên lời hẹn xem triển lãm, quên gọi lại cho tôi. Nhưng đêm hôm khuya khoắt, trong nhà tự nhiên thiếu đi một người sống sờ sờ, anh ấy luôn phải để tâm chứ.

Tiếc thay, suốt ba tiếng ấy, điện thoại của tôi im lìm như một nấm mồ. Tôi nhìn người đàn ông vẫn đang thản nhiên trên sofa, nuốt ngược sự nghẹn đắng vào lòng.

Trở về phòng tẩy trang, tắm rửa, dưỡng da. Tắt đèn, tôi nằm quay lưng về phía anh. Tấm nệm hơi lún xuống, mang theo một luồng khí mát lạnh. Tạ Bắc Khang tháo kính, bỗng nhiên mở lời:

“Triển lãm hôm nay thuận lợi chứ?”

3

Sống lưng tôi cứng đờ. Trong bóng tối, tôi không quay đầu lại.

“Khá thuận lợi.”

Đó là sự thật. Ánh sáng hoàn hảo, khách khứa đông đúc, thậm chí bức tranh đó còn trở thành tâm điểm. Điều hối tiếc duy nhất chỉ là chủ thể trong tranh đã không thể tự mình chứng kiến mà thôi.

Phía sau vang lên tiếng sột soạt, một bàn tay ấm áp đưa tới, vén lại góc chăn cho tôi.

“Vậy thì tốt rồi.”

Giọng Tạ Bắc Khang mang theo vẻ mệt mỏi, giải thích: “Lịch trình hôm nay quá dày, anh buộc phải cắt bỏ một phần những sắp xếp không cần thiết.”

Không cần thiết. Hóa ra sự chuẩn bị tâm huyết của tôi, trong thời gian biểu của anh, thuộc về hạng mục “không cần thiết”.

Anh khựng lại một chút, dùng giọng điệu bao dung của người bề trên:

“Nhược Di, nếu em có giận, anh cũng có thể hiểu—”

“Em không giận.” Tôi ngắt lời anh.

Sống cùng anh ba năm, tôi mới muộn màng nhận ra: Tôi không phải kiểu người vợ có quyền được giận chồng. Càng không nên nảy sinh những kỳ vọng phi thực tế vào Tạ Bắc Khang. Mắt tôi cay xè, vùi mặt sâu vào trong chăn.

Tạ Bắc Khang dường như rất hài lòng với kết quả giao tiếp này.

“Ừm, vậy ngủ sớm đi.”

Anh thu tay về, xoay người quay lưng với tôi, nhịp thở nhanh chóng trở nên đều đặn.

Tôi cứ ngỡ đây chỉ là một lần nhẫn nhịn và tự mình tiêu hóa nỗi buồn như bao lần khác. Cứ ngỡ ngày tháng sẽ cứ trôi qua một cách tê dại trong những nỗi thất vọng chồng chất này. Thế nhưng tôi không hề nhận ra, chẳng bao lâu sau, chính anh sẽ tự tay chặt đứt sợi dây liên kết cuối cùng của tôi với anh, và với cuộc hôn nhân này.

4

Ngày đầu quen biết, Tạ Bắc Khang đã mang dáng vẻ khắc kỷ, vững chãi, đoan chính và xa cách thế này rồi. Trong cái vòng tròn phú nhị đại đầy xa hoa trụy lạc, anh sạch sẽ đến mức lạc lõng.

Người ta gọi đây là hào môn liên hôn. Nhưng tôi luôn thấy đây chẳng qua là những cuộc “xem mắt luân phiên” giữa đám con em gia đình quyền quý ở Bắc Kinh. Và Tạ Bắc Khang không nghi ngờ gì chính là đối tượng mà đại đa số các gia tộc thèm muốn. Không ngoại tình, không con riêng, sự nghiệp bành trướng đến mức khiến thế hệ cha chú cũng phải kinh ngạc.

Thế nên, khi có thể cùng anh đi đến hôn nhân, ban đầu tôi đã thấy mình thật may mắn. Chúng tôi thực hiện hoàn hảo tinh thần khế ước, thực sự “tương kính như tân”. Tôi cứ ngỡ đó là sự ăn ý để cùng nhau đi hết cuộc đời.

Cho đến khi đồng nghiệp, bạn bè xung quanh lần lượt kết hôn. Có người cãi vã vì chuyện vặt vãnh, có người rơi lệ vì sự bất ngờ trong ngày kỷ niệm. Nhìn những hỉ nộ ái ố sống động của họ, tôi chợt thấy… tôi và Tạ Bắc Khang dường như… quá khách sáo với nhau rồi.

Khách sáo đến mức không giống vợ chồng. Thậm chí trên giường, cũng giống như đang làm việc công hơn.

Năm đó vì anh cả của Tạ Bắc Khang theo nghiệp chính trị, đám cưới lại đúng vào dịp diễn ra một cuộc họp quan trọng, nên hôn lễ của chúng tôi được tổ chức cực kỳ kín tiếng, chỉ mời những người thân thiết nhất. Đến tận bây giờ, chúng tôi chẳng khác gì “hôn nhân bí mật”.

Tôi thử nhắc đến nỗi tiếc nuối của mình với cô bạn thân, cô ấy liền gõ đầu tôi kiểu “rèn sắt không thành thép”:

“Lương Tiểu thư ơi, cái ghế ‘Tạ phu nhân’ có bao nhiêu người đang nhìn chằm chằm vào kìa?”

“Anh ta có địa vị, có tài chính, không chơi bời, lại còn không quản thúc cậu, đây chẳng phải là cuộc sống thần tiên sao!”

“Tớ bảo này, cậu cũng đừng tham lam quá, cứ nhất thiết phải bàn chuyện tình cảm với kiểu người sinh ra đã là nhà tư bản như thế làm gì.”

Nhưng khi nghe được lời khuyên này thì đã muộn rồi. Chẳng biết từ bao giờ… tôi bắt đầu vô thức chú ý đến động tĩnh của anh. Bắt đầu dừng lại trên các bản tin tài chính để tìm kiếm bóng dáng anh. Thậm chí bắt đầu dành lượng lớn thời gian để phác họa bóng lưng anh trên khung tranh, cố dùng màu sắc để ghi nhớ những ký ức ấm áp ít ỏi giữa chúng tôi.

Ngày đó ở nhà cũ, tôi đã vui sướng biết bao khi anh nói sẽ đi xem triển lãm, đã để tâm biết bao đến bức tranh 《5:42 AM》. Đó không chỉ là một bức tranh. Đó là một lần tôi cố ý “vượt rào”, giấu mình trong ánh sáng và màu sắc. Đó là tình yêu thầm kín muốn cầu xin một sự đáp lại.

Chỉ tiếc là, tôi quên mất. Trong cuộc hôn nhân được định giá rõ ràng này, người tuân thủ quy tắc không chỉ có thể rút lui an toàn mà còn thu về lợi nhuận. Còn kẻ tham lam muốn phá vỡ quy tắc, có lẽ sẽ phải bồi thường đến trắng tay.

5

Sáng hôm sau khi tôi tỉnh dậy, Tạ Bắc Khang đã ra ngoài. Suốt một tuần sau đó, tôi không còn gặp lại anh. Biết tin anh bay sang Berlin công tác là qua bản tin tài chính buổi tối.

Ống kính lướt qua. Anh đang bắt tay với đối tác nước ngoài, chân mày lạnh lùng, khí thế ngời ngời. Tôi chợt nhận ra, trước đây dường như cũng luôn như vậy. Đi công tác ba ngày, năm ngày, thậm chí nửa tháng… Tôi đã quen với việc thông qua tin tức, thông qua vòng bạn bè của trợ lý, hay thậm chí là lời nịnh nọt của người khác để chắp vá lại lịch trình và tình hình gần đây của chồng mình.

Thế nhưng lúc này, trong lòng dâng lên một nỗi chua xót khó tả. Quả nhiên, khi đến văn phòng cũng lại là chuyện này. Đồng nghiệp đang bàn tán. Tập đoàn họ Tạ vì muốn nâng cao hình ảnh doanh nghiệp đã thành lập một quỹ hỗ trợ nghệ sĩ trẻ. Đây là một sự hợp tác chuyên sâu dài hạn, cần người phụ trách hai bên gặp mặt trực tiếp hàng tháng.

Khi thầy chủ nhiệm khoa đưa bản kế hoạch cho tôi, nếp nhăn trên mặt thầy cười như nở hoa:

“Nhược Di! Đây là dự án do đích thân Tạ tổng bên kia đứng ra khởi xướng đấy.”

“Trước đây nghe nói chồng em cũng làm việc ở tập đoàn họ Tạ, công việc này cứ giao cho em phụ trách đi, như thế Tạ tổng có sở thích gì em cũng có thể hỏi thăm từ phía người nhà.”

Đồng nghiệp xung quanh đồng loạt hưởng ứng, ánh mắt đầy vẻ ngưỡng mộ. Tập đoàn họ Tạ bối cảnh hùng hậu, có vài công ty con tham gia vào ngành nghệ thuật, không chỉ có trung tâm đấu giá riêng mà còn hợp tác với các tổ chức sưu tập hải ngoại. Trong đó có vài “người môi giới nghệ thuật” vàng, cứ cách vài năm lại có thể đẩy tên tuổi một nhóm nghệ sĩ và tác phẩm lên như diều gặp gió.

Nhưng lúc này, nhìn xấp tài liệu in logo nhà họ Tạ, tôi chỉ thấy nó nóng bỏng tay. Tôi không muốn. Không muốn ở một nơi chính thức như thế, không một lời báo trước mà chạm mặt anh. Không muốn nhìn anh dùng ánh mắt làm việc công, không một chút ấm áp nào để soi xét tôi.

“Thưa thầy, dạo này tiết học của em quá dày, không đủ tâm trí ạ.” Tôi thậm chí còn chẳng mở ra xem mà đẩy ngay cơ hội đi. “Cứ để cô Tống đi ạ, cô ấy từng làm hành chính, thạo việc này hơn em.”

6

Một tuần sau, Tạ Bắc Khang phong trần mệt mỏi trở về nhà. Anh cởi chiếc áo khoác bám hơi lạnh, vừa tháo khuy măng sét vừa bâng quơ nhắc tới:

“Chiều nay anh có đến học viện của các em.”

“Ồ.”

“Ký hợp đồng quỹ hỗ trợ đó.”

Tôi đang ngồi trên sofa vẽ phác thảo, đầu bút khựng lại: “Ồ.”

“Dự án đó rất tốt.” Tôi bổ sung một câu khô khốc.

Ngay khi tôi tưởng đây chỉ là một đoạn đối thoại ngắn ngủi vô nghĩa như mọi khi, bầu không khí bỗng im lặng đến lạ kỳ. Tôi cảm nhận được một ánh nhìn nặng nề đặt trên đỉnh đầu, đầy vẻ dò xét.

“Nghe nói, em đã khước từ vị trí người phụ trách dự án này?”

“Vâng…” Tôi rũ mắt.

Im lặng. Vẫn là im lặng. Anh đang đợi một lời giải thích. Tôi bình thản tìm một lý do nghe có vẻ rất “chính đáng”:

“Nếu em tham gia sâu, giai đoạn sau có lẽ phải lộ diện trong khâu thẩm định. Sau này một khi… bên ngoài khó tránh khỏi nghi ngờ tính công bằng của quỹ hội. Tóm lại là nên tránh tình nghi.”

“Tránh tình nghi?”

Anh bước tới một bước, bóng dáng cao lớn bao trùm lấy tôi.

“Thế nên, ngay cả chủ nhiệm của các em cũng không biết mối quan hệ của chúng ta. Cần phải tránh tình nghi đến mức này sao?”

Giọng anh trầm xuống, gằn từng chữ: “Lương Nhược Di, kết hôn ba năm, em chưa từng có ý định giới thiệu với đồng nghiệp, bạn bè rằng tôi là chồng của em?”

Chưa từng sao? Thật ra là có.

Năm đó tốt nghiệp, chúng tôi vừa nhận giấy đăng ký kết hôn, tin cưới chưa công khai. Bạn học không biết chuyện hỏi tôi muốn tìm bạn trai như thế nào. Tôi mượn chút hơi men, lần đầu tiên lấy hết can đảm nói thật:

“Thật ra…tôi chưa từng nói, tớ kết hôn rồi.”

“Kết hôn rồi? Cưới ai thế?”

“Tạ Bắc Khang, chồng tôi là Tạ Bắc Khang.” Tôi lặp lại.

Cô bạn nhìn gò má đỏ bừng vì say của tôi, lật xem bình luận dưới video phỏng vấn anh, rồi nghiêm túc trêu chọc:

“Ừm, anh ấy không chỉ là chồng cậu đâu, còn là chồng của chín trăm triệu thiếu nữ trên mạng nữa đấy.”

“Nhược Di à, dân nghệ thuật tụi mình có thể giàu trí tưởng tượng, nhưng không thể có chứng hoang tưởng được nha.”

Cả đám cười rộ lên. Tôi nghiêm túc lôi ảnh thẻ kết hôn ra, cô ấy lại lôi ra thêm nhiều ảnh ghép bằng AI hơn. Trong những bức ảnh đó, ngoại trừ nữ chính khác nhau thì người đàn ông kia từ khóe miệng đến độ cong đều y hệt.

Càng tự chứng minh lại càng giống trò đùa, dù sau khi mẹ tôi tái giá, gia thế nhà chúng tôi thật ra không chênh lệch bao nhiêu, nhưng Tạ Bắc Khang trong mắt mọi người vẫn là tồn tại cao không thể chạm tới. Từ đó về sau, tôi không bao giờ chủ động nhắc đến mối quan hệ này nữa. Bởi lẽ, nếu không phải đích thân anh đứng ra thừa nhận, mà chỉ có tôi đơn phương chứng minh, thì trong tai người ngoài nghe chẳng khác gì lời nói mộng mị giữa ban ngày.

Tôi nhớ lại chuyện cũ này. Nhớ lại cửa nhà triển lãm trống vắng lần trước. Và vô số lần anh từ chối những buổi tụ tập bạn bè của tôi trước đây. Cùng với mối quan hệ vợ chồng xa cách, lạ lẫm mấy năm qua. Những lời nói ấy cứ nghẹn ở cổ họng, trực trào ra ngoài.

Nhưng sau chuyện lần này, tôi chẳng còn muốn lún sâu vào nữa. Thế là, sự im lặng chết chóc lan tỏa trong phòng khách.

Tạ Bắc Khang nhìn người phụ nữ trước mắt đang cụp mi rũ mắt nhưng lại dựng lên một bức tường cao ngăn cách với mình. Mí mắt anh khẽ rung lên hai cái, trong con ngươi màu nâu nhạt thoáng qua một tia thất bại và bàng hoàng cực kỳ khó nhận ra. Anh xoay người lên lầu. Đưa tay nới lỏng cà vạt, tự mình lầm bầm nói nhỏ điều gì đó. Giọng điệu mang theo chút thất vọng tự giễu.

Nhưng tiếng anh quá nhỏ, nhỏ đến mức tôi không nghe thấy hai câu đó thật ra là:

“Tôi đúng là lớn hơn sáu tuổi. Nhưng cũng chưa đến mức tệ hại…khiến người ta thấy xấu hổ không dám dẫn đi giới thiệu chứ?”

7

Suốt một tháng sau đó. Sự xa cách giữa chúng tôi còn hơn cả ba năm trước cộng lại. Thời gian ăn sáng lệch nhau. Buổi tối thỉnh thoảng đều ở nhà nhưng đèn trong phòng vẽ và phòng làm việc cũng “mỗi người một ngả”. Thậm chí câu “chúc ngủ ngon” lệ bộ trước khi ngủ cũng giống như bị ngăn cách bởi một lớp kính mờ dày đặc, mông lung và méo mó.

Chúng tôi dường như đang… chiến tranh lạnh. Dùng một phương thức đặc trưng của những cặp đôi liên hôn, những người trưởng thành, để đối kháng không tiếng động.

Cho đến khi học viện tổ chức buổi tối từ thiện nghệ thuật thường niên. Với tư cách là nhà tài trợ chính, Tạ Bắc Khang được mời tham dự. Còn tôi thì thay thế đồng nghiệp xin nghỉ, được sắp xếp tạm thời phụ trách điều phối hiện vật tại hiện trường. Hai vợ chồng sống chung một mái nhà, không hề thông báo cho nhau lịch trình tối nay, lại vô tình hội ngộ tại đây.

Đám đông náo nhiệt, chén thù chén tạc, một sự nực cười đến lạ lùng. Thầy chủ nhiệm khoa dẫn Tạ Bắc Khang và vài vị lãnh đạo viện đi về phía này, từ đằng xa đã nhiệt tình vẫy tay gọi tôi:

“Nhược Di, lại đây chào hỏi một tiếng nào.”

Tạ Bắc Khang dừng bước. Một bộ vest may thủ công cao cấp màu xám thép càng tôn lên đường nét vốn đã lạnh lùng của anh thêm phần xa cách. Anh liếc nhìn tôi một cái. Không hề có một chút thân thuộc nào mà một người chồng nên có khi nhìn thấy vợ mình giữa đám đông.

Thầy chủ nhiệm không nhận ra sự bất thường, vẫn đang hào hứng giới thiệu:

“Tạ tổng, đây là cô Lương Nhược Di của khoa chúng tôi, tuy trẻ tuổi nhưng thành tựu về tranh sơn dầu rất sâu dày.”

Ánh mắt chạm nhau. Trong tích tắc, tôi nhớ lại buổi tối hôm đó, câu chất vấn mang theo sự thất vọng của anh — “Em chưa từng có ý định giới thiệu với đồng nghiệp, bạn bè rằng tôi là chồng của em?”

Tim tôi như bị cái gì đó khẽ móc vào. Tôi hít sâu một hơi, trịnh trọng lên tiếng:

“Thưa thầy, thật ra em và Tạ tổng—”

“Quen biết.” Tạ Bắc Khang thần sắc thản nhiên, tiếp lời của tôi.

Thầy chủ nhiệm hơi ngạc nhiên, rồi cười đáp: “Ồ? Hóa ra Nhược Di và Tạ tổng đã quen nhau từ trước?”

Tôi đứng nguyên tại chỗ, tim đập nhanh đến mức dường như tiếng vọng của nó còn vang lên giữa không gian trống trải. Trong một thoáng ngắn ngủi, tôi đã nhanh chóng xây dựng xong tâm lý, sẵn sàng đón nhận sự ngỡ ngàng, kinh ngạc hoặc không thể tin nổi sắp hiện lên trên mặt mọi người. Sẵn sàng gánh chịu mọi ồn ào sau khi công khai mối quan hệ.

Tôi nhìn trân trân vào anh. Rồi nghe thấy người đàn ông bình thản nói:

“Vâng, hai gia đình là thế giao.” Anh khựng lại một chút, rồi bổ sung thêm một câu: “Mối quan hệ của chúng tôi… chẳng khác gì người thân.”

Nói xong, anh nhìn tôi không rời mắt, đáy mắt chẳng chút gợn sóng. Tôi há miệng, cổ họng nghẹn đắng.

Là thế giao, là người thân. Chỉ duy nhất.

Không phải vợ, không phải người yêu. Anh đã dùng chính cái lý do “tránh tình nghi” mà tôi từng nói để đáp trả tôi một cách hoàn hảo. Đôi lông mày như hai bó hẹ của thầy chủ nhiệm lúc này vì kinh ngạc mà dựng đứng lên.

“Ái chà! Nhược Di! Em… em cũng kín tiếng quá đấy! Thảo nào Tạ tổng ủng hộ công việc của viện chúng ta đến thế. Có mối quan hệ này sao không nói sớm? Thật là… thật là…” Một người vốn khéo léo như thầy lúc này thậm chí cũng thấy cạn lời.

Tôi đứng tại chỗ, gượng cười, cổ họng khô khốc hùa theo. Ánh mắt xung quanh ném tới đầy sự ngưỡng mộ và nóng bỏng, dường như ai nấy đều kinh ngạc khi thấy tôi có một người như Tạ Bắc Khang bảo chứng phía sau.

Thế nhưng nhìn bóng lưng anh được đám đông vây quanh dần đi xa, tôi chỉ thấy như rơi vào hầm băng.

“Cô Lương, không sao chứ? Sắc mặt kém vậy?” Một giọng nam ấm áp vang lên bên tai. Người đàn ông bên cạnh âm thầm chắn đi những ánh nhìn dò xét xung quanh.

“Không sao.” Tôi lắc đầu, muốn thoát khỏi cảm giác nghẹt thở đó. “Tôi qua đằng kia uống ngụm nước.”

Trong lúc thần trí thẫn thờ, tôi không chú ý đến đống dây cáp dưới sàn.

“Cẩn thận!”

Cùng với một tiếng hô hoán, giá vẽ bằng gỗ đặc nặng nề đổ ụp xuống. Tôi theo bản năng đưa tay ra đỡ nhưng đã không kịp. Kim loại sắc nhọn cứa vào bắp chân, đau thấu tim gan.

Xung quanh lập tức hỗn loạn.

“Nhiều máu quá!” Một cậu sinh viên lao tới đầu tiên, quỳ xuống xem vết thương của tôi, chân mày nhíu chặt: “Vết thương sâu quá, em đưa cô đi bệnh viện.”

Cậu sinh viên đẩy người đàn ông lạ mặt bên cạnh ra, không nói không rằng đỡ tôi dậy. Nhưng tôi lại như bị điều gì đó thôi thúc, theo bản năng quay đầu lại, nhìn xuyên qua đám đông hỗn loạn về phía trung tâm đại sảnh.

Tạ Bắc Khang đang nghiêng người, cùng các lãnh đạo viện bàn luận về một bức tranh. Anh thần tình tập trung, những động tĩnh ồn ào bên này thậm chí không thể khiến anh liếc nhìn lấy một cái. Dường như tất cả những gì xảy ra ở đây chẳng hề liên quan gì đến anh.

Dù cho, người đó là vợ anh.

“Cô Lương, đi thôi.” Cậu sinh viên lo lắng gọi tôi một tiếng.

Tôi thu hồi tầm mắt, mắt cay xè dữ dội, lòng nhói lên từng cơn đau đớn. Lần này, tôi rốt cuộc không nhịn được nữa. Ngay khoảnh khắc quay đi, nước mắt lã chã rơi.

8

Sáng hôm sau, Tạ Bắc Khang mới chú ý thấy tôi đi đứng hơi khập khiễng. Anh lên tiếng quan tâm theo lệ:

“Chân bị sao thế?”

“Tối qua—” Lời tôi bị cắt ngang bởi tiếng chuông điện thoại.

Anh nghe máy, thần sắc trở nên nghiêm trọng. Thậm chí không đợi tôi nói hết câu, anh đã sải bước nhanh ra hiền nhà để mặc áo khoác. Sau khi cúp máy, anh tiếp nối câu chuyện vừa nãy:

“Tối qua… về mối quan hệ của chúng ta, tôi đã suy nghĩ kỹ rồi. Dù sao tôi cũng được coi là nửa người của công chúng, nếu em muốn giữ bí mật, tôi sẽ tôn trọng em.”

“Giờ tôi phải sang thành phố bên cạnh bàn giao một số công việc, em ở nhà một mình chắc ổn chứ?”

Lời thì hỏi như vậy, nhưng người thì đã đẩy cửa ra. Gió tràn vào, thổi qua bắp chân đang quấn băng gạc khiến tôi đau âm ỉ. Tôi lắc đầu, giọng nhỏ như gió thổi là tan:

“Không sao, ở nhà có dì giúp việc mà, anh đi làm việc đi.”

Cửa đóng lại, trong phòng lại trở về sự im lặng chết chóc. Tôi chậm rãi ngồi thụp xuống, ôm lấy bắp chân. Làn hơi nóng hổi nhanh chóng làm mờ đi tầm mắt.

9

Chiều ba ngày sau, tôi dạy xong tiết cho Tạ Bắc Diểu.

Lúc thu dọn họa cụ, con bé vừa rửa cọ vừa bâng quơ hỏi:

“Chị dâu, chị cũng sẽ sang London cùng anh cả chứ?”

Ngón tay đang xếp cọ của tôi cứng đờ, ngơ ngác ngẩng đầu: “Ý em là sao?”

Tạ Bắc Diểu không nhận ra sự khác lạ, vẩy vẩy những giọt nước trên tay: “Anh cả sắp chuyển sang ngồi trấn chi nhánh ở London mà.”

“Anh ấy đi công tác khắp nơi, sao chị theo cho nổi.” Nói được nửa câu, tôi bỗng thấy không ổn: “Ý em ‘ngồi trấn’ là…?”

“Thường trú, thường trú hai năm luôn ấy.”

Tim tôi thắt lại một cái. “Chuyện đó… từ khi nào?”

“Lâu rồi mà, em nghe nói từ một tháng trước, tuần trước mới chính thức chốt xong.”

Nói đến đây, con bé chợt nhận ra mình có vẻ đã lỡ lời, lập tức mím chặt môi.

“…Anh cả chưa nói với chị sao?”

Tiếng nói im bặt. Khoảnh khắc đó, mùi dầu thông nồng nặc trong phòng vẽ khiến tôi thấy buồn nôn. Tôi buộc phải bám vào giá vẽ mới có thể đứng vững.

Suốt thời gian qua, chúng tôi rõ ràng vẫn ngồi ăn cùng bàn, ngủ cùng giường. Anh ấy có vô số khoảnh khắc có thể nói cho tôi biết. Nhưng anh ấy đã không làm thế. Không phải cố ý che giấu, mà là cảm thấy không cần thiết.

Sự phớt lờ tự nhiên như hơi thở này còn khiến người ta tuyệt vọng hơn cả những trận cãi vã nảy lửa. Hóa ra, trong một kế hoạch kéo dài hơn bảy trăm ngày, cách xa tám ngàn cây số, việc thông báo cho người vợ này lại là một chuyện nhỏ nhặt đến mức tầm thường, thậm chí có thể tiện tay mà lược bỏ.

Tôi giống như một món đồ tĩnh vật trong căn phòng này vậy. Anh ấy có mặt hay vắng mặt, chuyển đi hay ở lại, đều không cần hỏi qua ý kiến của món đồ trang trí.

Có lẽ chính là khoảnh khắc đó, tôi quyết định ly hôn.

10

Rạng sáng bốn giờ, ổ khóa cửa khẽ xoay.

Tôi ngồi trên sofa, ôm lấy đầu gối mình.

“Vẫn chưa ngủ à?”

“Ừm.” Tôi nhìn anh, đôi mắt ấy vẫn lạnh nhạt như cũ, “Em đang đợi anh.”

Đây là lần đầu tiên, tôi dũng cảm đến vậy, thẳng thắn đến vậy thừa nhận rằng mình đang đợi anh.

Tạ Bắc Khang khựng lại một thoáng, rồi bước tới ngồi xuống bên cạnh tôi.

“Anh sắp đi London sao?” Tôi hỏi.

“Em biết rồi à?”

Anh hoàn toàn không cảm thấy chuyện đó có gì không ổn.

“Lần điều động này rất quan trọng, anh không đi không được.”

“Ngày nào xuất phát?”

“Vé máy bay vào thứ Tư.”

Tức là ngày kia nữa.

Chỉ còn lại 72 giờ.

Tôi gật đầu, cố nén vị chua xót đang dâng lên nơi đáy mắt.

Nhìn kim đồng hồ chỉ sang bốn giờ rưỡi, tôi khẽ đưa ra yêu cầu cuối cùng:

“Trước khi đi, anh có thể lại cùng em ngắm mặt trời mọc một lần nữa không?”

Tạ Bắc Khang sững ra một chút, dường như không theo kịp mạch suy nghĩ đột ngột của tôi.

Anh nhìn ra bên ngoài màn đêm đen kịt ngoài cửa sổ, rồi lại nhìn gương mặt đầy vẻ mệt mỏi của tôi.

Dù không hiểu vì sao, cuối cùng anh vẫn gật đầu.

11

Xe dừng bên bờ biển.

Gió biển cuối thu lạnh buốt, chúng tôi ngồi sóng vai trên mỏm đá.

Giống hệt buổi sớm ba năm trước, khi chúng tôi hôn nhau nơi này.

Tôi đã xem dự báo thời tiết, hôm nay thời gian mặt trời mọc là 6 giờ 05 phút.

Thời gian trên điện thoại từng giây từng phút nhảy lên.

5:59, 6:00, 6:01…

Tạ Bắc Khang bên cạnh khẽ động đậy.

Anh giơ tay lên nhìn đồng hồ, lại liếc qua đường chân trời xám đục trước mặt.

“Nhược Di, tầng mây quá dày, xét theo xác suất mà nói, hôm nay sẽ không nhìn thấy nữa đâu.”

Tôi không nhúc nhích, cố chấp nhìn chằm chằm mặt biển:

“Đợi thêm năm phút nữa đi, biết đâu gió sẽ thổi mây tan.”

Anh đứng dậy, chỉnh lại vạt áo măng tô bị gió thổi rối, giọng điệu vẫn bình ổn:

“Sáng nay anh có cuộc họp, còn cần thời gian đến thành phố bên cạnh.”

“Tiếp tục đợi ở đây cũng không có ý nghĩa gì.”

“Lãng phí thời gian ở chỗ này cũng không đáng.”

Không đáng.

Đó chính là logic của anh.

Buổi triển lãm không đáng, cảm xúc của tôi không đáng, thậm chí năm phút cuối cùng này, cũng không đáng.

6:05.

Mặt trời không nhô lên khỏi mặt biển đúng như hẹn.

Chỉ có ánh trời xám mờ, từng chút từng chút nuốt chửng khoảnh khắc lam điệu mà tôi từng coi như báu vật ấy.

“Tạ Bắc Khang.”

Tôi nhìn gương mặt lúc nào cũng bình tĩnh, lúc nào cũng đúng của anh.

Đột nhiên thấy nhẹ nhõm chưa từng có.

“Anh nói đúng, có vài chuyện nếu kết cục đã định sẵn, tiếp tục chờ đợi quả thực không còn ý nghĩa.”

“Em gọi anh về, bắt anh đi cùng em ngắm mặt trời mọc, chỉ để nói chuyện này thôi sao?”

Tôi đứng dậy, phủi cát sạn trên gấu váy, quay đầu lại bình tĩnh nói:

“Tất nhiên không phải, điều em muốn nói với anh là—”

“Chúng ta ly hôn đi.”

12

Gió biển cuốn theo sóng lớn, vỗ mạnh vào ghềnh đá, lấp đi khoảng tĩnh lặng chết chóc trong khoảnh khắc ấy.

Người đàn ông sững người một thoáng, trong mắt lóe lên vẻ kinh ngạc.

Tôi không cho anh thời gian để bình tâm, cũng không cho chính mình đường lui để đổi ý.

“Bản thỏa thuận sáng nay sẽ gửi cho anh, nếu không có vấn đề gì thì làm xong thủ tục đăng ký ly hôn rồi anh hãy đi thành phố bên cạnh.”

Tôi nhìn anh, bổ sung thêm một câu:

“Khoảng thời gian này, hẳn là anh vẫn có chứ?”

“Nhược Di.”

Giọng Tạ Bắc Khang trước nay vẫn trầm ổn và thấp nhẹ, lúc này cũng không ngoại lệ.

“Em gọi anh về giữa đêm, bắt anh đi ngắm mặt trời mọc cùng em, lại dọn đường lâu như vậy…”

“Chỉ là để nói với anh chuyện này?”

Gió thổi qua, tôi đưa tay vuốt lọn tóc vụn trước trán.

“Ừm.” Tôi ngẩng đầu, đón lấy ánh mắt anh, “Chuyện này, chẳng lẽ không đáng để anh quay về một chuyến sao?”

Tạ Bắc Khang mím thẳng khóe môi, giọng điệu hờ hững:

“Vì sao?”

“Vì anh không đến buổi triển lãm sao? Nhưng ngày hôm đó anh nhớ là anh đã giải thích rồi.”

“Hay là vì hôm đó anh đi vội, không kịp quan tâm đến vết thương của em? Nếu là vậy, em hoàn toàn có thể nói rõ với anh.”

Gió biển quá lạnh.

Tôi cứ tưởng mình đã chuẩn bị tâm lý từ trước rồi.

Nhưng khi nhìn thấy ánh mắt phẳng lặng không gợn sóng ấy của anh, tim tôi vẫn không tránh khỏi đau nhói âm ỉ.

Anh không giống như đang bàn chuyện ly hôn với vợ mình.

Mà càng giống như đang bàn với một đối tác về một dự án đã xuất hiện vết nứt, khó lòng duy trì tiếp.

Còn anh thì đang cố dùng kiểu tư duy công việc, việc công ra việc công để phân tích cho rõ logic bên trong chuyện đó.

Nhưng mấy năm nay.

Giữa chúng tôi chưa bao giờ chỉ có một hai chuyện.

Mà gần như xuyên suốt toàn bộ quãng đời sau hôn nhân—

Những ngày kỷ niệm không được để tâm,

Những cuộc hẹn không được coi trọng.

Và cả chính tôi, người chưa từng được nhớ đến…

Tôi cũng không còn nhớ, rốt cuộc từ khi nào mình đã từ bỏ việc giải thích nữa.

Có lẽ là từ lúc tôi nhận ra, trong cuộc hôn nhân vốn dĩ chỉ là một cuộc trao đổi lợi ích này, người động lòng trước là kẻ đơn phương vượt ranh giới, từ đó định sẵn sẽ mất đi tư cách chất vấn.

Mà những chuyện nếu tách riêng ra từng việc thì đều trở nên quá đỗi làm màu.

Cộng lại với nhau, cũng chỉ là tự rước nhục vào thân.

Cũng may Tạ Bắc Khang từ trước đến nay luôn là một người lấy việc giữ phong độ tao nhã làm nguyên tắc.

Anh không truy hỏi đến cùng để ép tôi phải đưa ra một lý do.

13

Trở lại thư phòng, bầu không khí đè nén đến mức khiến người ta nghẹt thở.

Tạ Bắc Khang đọc xong bản thỏa thuận ly hôn mỏng nhẹ kia, hai tay đan vào nhau, chống dưới cằm, ánh mắt trầm xuống rơi trên người tôi.

“Em quyết định từ khi nào?”

“Tối qua.”

“Tối qua?” Anh giận quá hóa cười, ngón tay khẽ gõ lên mặt bàn, “Soạn xong thỏa thuận rồi mới đến nói với anh?”

“Đúng.” Tôi khựng lại một chút, “Chẳng phải anh cũng là quyết định xong chuyện đi London rồi mới nói với em sao.”

Tạ Bắc Khang khép bản thỏa thuận lại, tiện tay trả lại cho tôi.

“Lúc kết hôn, anh không nhìn ra em lại có tính trẻ con như vậy.”

Anh đứng dậy, từ trên cao nhìn xuống tôi.

“Những lời bốc đồng kiểu này, sau này đừng nói nữa.”

“Lần này anh coi như chưa nghe thấy, em đi nghỉ đi.”

Nói xong, anh lập tức lướt qua tôi, đi lấy áo măng tô treo trên giá.

Trong mắt anh.

Đây chẳng qua chỉ là một màn nháo nhào gia đình cần được xử lý lạnh.

Chỉ cần để đó một thời gian.

Tôi sẽ lại giống như trước, tự tiêu hóa, tự chữa lành.

Rồi tiếp tục làm một người vợ ngoan ngoãn, vô hình.

“Tạ Bắc Khang.”

Tôi gọi anh lại.

Giọng nói trong thư phòng trống trải vang lên rõ ràng từng chữ:

“Nếu làm lỡ hành trình của anh, em xin lỗi.”

Tôi chỉnh lại bản nháp đã chuẩn bị sẵn trong đầu, cố gắng khiến từng chữ mình nói ra đều có vẻ lý trí và khách sáo.

“Nhưng em nghĩ, một chuyến bay thẳng đến London cũng mất khá nhiều thời gian, cho nên em cảm thấy vẫn nên giải quyết xong chuyện này trước khi anh ra nước ngoài thì sẽ tốt hơn.”

“Chúng ta là liên hôn, thỏa thuận trước hôn nhân giữa hai nhà đã ký rất rõ ràng, cũng không cần tốn thời gian phân chia tài sản, chỉ là làm một thủ tục thôi, chắc sẽ không làm chậm trễ anh quá lâu, cho nên… nếu tiện, cho em chút thời gian nhé.” Giọng điệu của tôi gần như là cầu xin.

Tạ Bắc Khang lặng lẽ nhìn người phụ nữ trước mặt, dường như vẫn đang xem xét rốt cuộc trong thái độ của cô có bao nhiêu phần là thật.

Mặc dù cuộc sống hôn nhân mấy năm nay vẫn luôn nhạt nhẽo vô vị, nhưng anh tự cho rằng, đối với cuộc hôn nhân này mình vẫn được xem là trung thành.

Kể từ khi kết hôn, anh chưa từng nghĩ giữa họ sẽ đi đến bước này.

Nhưng rất rõ ràng, cô chẳng có bao nhiêu tình cảm với mình.

Vậy thì, anh cũng không có lý do gì để dây dưa níu kéo.

Anh chỉ mất vài giây, đã khôi phục lại vẻ điềm tĩnh gần như lạnh lùng của người nắm rõ mọi chuyện.

Người đàn ông ngồi trở lại ghế, mở nắp bút.

“Được, nếu em đã kiên quyết, vậy anh sẽ thành toàn cho em.”

Ngay trước một giây đầu bút chạm xuống mặt giấy, động tác của anh đột ngột khựng lại.

“Nhưng sang năm tập đoàn có kế hoạch niêm yết ở thị trường nước ngoài, anh không muốn trong khoảng thời gian này xuất hiện dư luận về chuyện hôn biến, ảnh hưởng đến niềm tin của bên vốn.”

“Cho nên, thủ tục có thể làm, nhưng tin tức nhất định phải bịt kín.”

Anh dừng một chút, bổ sung bằng giọng điệu đương nhiên như lẽ phải:

“Điều đó cũng có nghĩa là, khi cần thiết, em vẫn phải đóng vai bà Tạ.”

Nhìn cách dùng từ bình tĩnh đến gần như kín kẽ của anh, tôi chỉ cảm thấy trái tim như bị một bàn tay to lớn siết chặt, rồi lại bất lực buông ra.

Khoảnh khắc ấy, tôi vô cùng chắc chắn, quyết định ly hôn này đúng đắn đến nhường nào.

Đau đến cực điểm, con người ngược lại sẽ trở nên tỉnh táo.

Tôi thu lại chút mong chờ còn sót nơi đáy mắt, cũng gột đi vẻ dịu ngoan mà suốt ba năm qua tôi vẫn luôn có trước mặt anh.

“Tạ Bắc Khang, nếu anh đang dùng thân phận người chồng để đưa ra yêu cầu, thì anh sắp không còn là chồng em nữa.”

“Nếu anh đang dùng thân phận đối tác hợp tác, vậy thì… em không có nghĩa vụ đó.”

Tạ Bắc Khang ngẩng đầu lên, đôi mắt vẫn đẹp đến mức khiến người ta kinh tâm ấy lúc này lạnh lùng đối diện với tôi, trái tim anh như bị thứ gì đó khẽ kéo lại.

Người vợ vốn luôn ôn hòa, nhẫn nhịn, thuận theo mọi chuyện của ngày thường, bỗng nhiên bắt đầu nói điều kiện với anh.

Điều đó khiến anh trở tay không kịp.

May mà, bao năm chìm nổi trên thương trường, thứ anh giỏi nhất, chính là đàm phán.

Tạ Bắc Khang khẽ nhíu mày, nhưng giọng nói lại hạ xuống:

“Chuyện công ty lên sàn không phải trò đùa, Nhược Di, chuyện gì ra chuyện đó.”

“Hay cho một câu chuyện gì ra chuyện đó.”

Tôi nuốt xuống đầy lòng chua xót.

Giống như một người vợ liên hôn thật sự chỉ quan tâm đến lợi ích, chưa từng yêu anh, tôi lạnh giọng chất vấn:

“Nếu đã chuyện gì ra chuyện đó, vậy em có thể nhận được gì?”

Sắc mặt Tạ Bắc Khang không đổi, như thể đã sớm chuẩn bị.

“Đây cũng chính là điều anh định nói với em.”

Anh kéo ngăn kéo ra, lấy ra một bản thỏa thuận đã được soạn sẵn từ trước, đẩy sang cùng với bản thỏa thuận ly hôn.

“Anh sẽ lấy danh nghĩa em là cố vấn nghệ thuật của công ty, để em tham gia vào kế hoạch quyền chọn cổ phiếu cho nhân viên trước khi công ty lên sàn, cho em 2% quyền chọn.”

“Theo định giá vòng gọi vốn cuối cùng hiện tại và tỷ lệ PE của các công ty cùng loại để ước tính, sau khi lên sàn, phần cổ phần này ít nhất cũng có giá trị chín chữ số. Đương nhiên, nếu em tin vào triển vọng của công ty, thực hiện quyền muộn hơn một chút, vượt qua mười chữ số cũng không phải là không thể.”

Ngón tay anh gõ nhẹ lên tập tài liệu:

“Hợp lý chứ?”

Hợp lý.

Thậm chí còn có thể gọi là hào phóng.

Nhưng vì sao, tôi chỉ cảm thấy cổ họng như nuốt phải một ngụm lớn thủy tinh vỡ, không nuốt xuống được, cũng không nhổ ra nổi, trong miệng toàn là vị tanh ngọt.

Thì ra, ba năm hôn nhân, hàng trăm hàng nghìn ngày đêm chung chăn gối, đến cuối cùng, thân phận “bà Tạ” này, trong mắt Tạ Bắc Khang, cũng vẫn có thể quy đổi thành những con số.

“Được.” Tôi nhắm mắt lại, gật đầu.

Có được câu trả lời vừa ý.

Đầu bút hạ xuống, phát ra tiếng sột soạt.

Anh ký tên xong, đẩy bản thỏa thuận về phía tôi:

“Vừa hay, mấy ngày này em cũng có thể bình tĩnh lại.”

“Nếu em hối hận, anh cũng có thể coi như hôm nay chưa từng nghe thấy những lời này.”

Bước chân tôi khựng lại, quay người nói:

“Vậy anh vẫn nên nghe cho kỹ đi.”

“Nếu tiện, chiều nay chúng ta đi làm thủ tục.”

14

Một ngày trước khi lên đường sang London, theo thường lệ, Tạ Bắc Khang đến Học viện Mỹ thuật tham gia buổi họp kết nối dự án.

Mặc dù bọn họ vừa làm xong thủ tục ly hôn.

Mặc dù anh đã sớm biết người phụ trách không còn là Lương Nhược Di nữa.

Mặc dù buổi họp kết nối này, anh sắp xếp cho người khác đến thay cũng hoàn toàn không có gì đáng trách.

Nhưng anh chỉ đơn thuần là vì công việc, anh tự thuyết phục mình như vậy.

Khi đi đến trước cửa phòng họp, từ khe cửa khép hờ truyền ra tiếng trò chuyện khe khẽ đã cố ý hạ thấp của mấy cô giáo.

“Này, mọi người vừa thấy Nhược Di chưa? Tranh thủ giờ nghỉ trưa đi bệnh viện thay thuốc đấy, cái chân sưng đến mức… nhìn thôi cũng thấy đau rồi.”

“Thấy rồi, què mấy ngày trời mới đỡ hơn một chút.”

Một giọng khác mang theo mấy phần bất bình:

“Sao vẫn là tự đi một mình? Người nhà đâu?”

Bàn tay đang định đẩy cửa của Tạ Bắc Khang chợt khựng giữa không trung.

“Đưa gì mà đưa, cô từng thấy vị người nhà bí ẩn ấy lộ mặt bao giờ chưa?”

Người nữ giảng viên lúc trước hừ lạnh một tiếng, trong giọng nói tràn đầy vẻ bất bình thay người khác:

“Có bận đến mấy, chẳng lẽ lại không dành ra nổi từng ấy thời gian sao? Đây là lần thứ bao nhiêu rồi?”

“Đừng nói đến lần triển lãm trước, chỉ nói lần hội thao đó cô ấy vô tình bị dị ứng phấn hoa phải vào cấp cứu, rồi cả lần trước chân bị giá vẽ đập trúng… có lần nào thấy người đâu?”

“Đúng thế còn gì.”

Một đồng nghiệp khác tiếp lời, giọng điệu chắc nịch mà khinh miệt:

“Theo tôi thấy, người đàn ông đó либо là có người ở bên ngoài, либо là vốn dĩ chưa từng coi Nhược Di ra gì.”

“Kiểu hôn nhân góa phụ sống như có chồng mà chẳng khác gì không có thế này thì có ý nghĩa gì chứ? Nếu là tôi gặp phải một ông chồng như vậy, lạnh nhạt, vắng mặt, tôi ly hôn từ lâu rồi!”

Tạ Bắc Khang đứng ngoài cửa, cả người cứng lại, tập tài liệu trong tay bị anh vô thức siết chặt.

Anh quay người hỏi chủ nhiệm khoa:

“Chủ nhiệm Trương, chồng của Lương Nhược Di… thật sự tệ đến vậy sao?”

Chủ nhiệm khoa nhìn sắc mặt trầm xuống của anh, lại nhớ đến mối quan hệ thế giao giữa hai nhà, dứt khoát cảm thấy cũng chẳng có gì cần giấu giếm, chỉ khẽ thở dài rồi đáp nhỏ.

“Nhược Di tính tình tốt, chỉ là mỗi lần mọi người nhắc đến chồng cô ấy, cô ấy hình như quả thật sẽ vô thức tránh sang chuyện khác.”

“Với lại, từ sau khi kết hôn, rất lâu rồi cô ấy không còn cho ra được tác phẩm nào ra hồn nữa.”

“Phải biết rằng năm đó khi còn ở trường, Lương Nhược Di chính là sự tồn tại khiến cả Học viện Mỹ thuật đều phải ngoái nhìn, người đẹp, mà thiên phú lại càng kinh người, một bức ‘Tiếng Vọng Từ Biển Sâu’ trong triển lãm tốt nghiệp đã được một tổ chức nghệ thuật hàng đầu mua lại với giá cao, khi ấy ai ai cũng nói tiền đồ của cô ấy không thể đo lường.”

Chủ nhiệm Trương dừng một chút, nhìn đường quai hàm đang căng chặt của người đàn ông trước mặt, giọng điệu trở nên phức tạp hơn:

“Mấy năm sau kết hôn, như thể linh khí cũng bị mài mòn sạch rồi.”

“Khụ… Tạ tổng, có lẽ tôi nói hơi nhiều.”

“Nhưng trước khi cô ấy vào giảng dạy, dù sao cũng từng là học trò đắc ý của tôi, nhìn cô ấy bây giờ thế này, tôi thật sự thấy tiếc cho cô ấy. Trước đó cậu nói hai người thân như người nhà, nên tôi nghĩ, những lời này… nói cho cậu biết cũng không sao.”

Tạ Bắc Khang không nói thêm gì nữa, chỉ nhíu mày đẩy cửa bước vào.

Cuộc họp vẫn diễn ra như bình thường, anh vẫn là Tạ tổng với lời lẽ chuẩn xác, quyết đoán dứt khoát như cũ.

Chỉ là đến lúc báo cáo dự án, ngay khoảnh khắc PPT bị đứng lại.

Anh lại không kiểm soát được mà thất thần, nhớ đến những lời vừa rồi.

Lời của chủ nhiệm Trương giống như một hòn đá ném xuống mặt hồ phẳng lặng, làm dậy lên từng vòng gợn sóng, khuấy loạn lối tư duy vốn luôn rõ ràng của anh.

Những lời lên án đầy màu sắc cảm xúc ấy, trong mắt anh, đều là sự phóng đại và thiếu công bằng.

Anh cho rằng mình đã đưa ra lời giải tối ưu nhất trong hôn nhân.

Bảo đảm vật chất, địa vị xã hội, tuyệt đối trung thành.

So với cuộc liên hôn giữa cha mẹ anh, đến một món quà sinh nhật còn chưa từng thấy.

Anh thậm chí còn sắp xếp để trợ lý đặc biệt chuẩn bị chu đáo quà vào các dịp lễ tết và sinh nhật.

Đây là một cuộc hôn nhân mang tính khế ước, anh tự nhận mình chưa từng mắc nợ, thậm chí có thể gọi là hoàn hảo.

Nhưng vì sao.

Anh vẫn cứ cảm thấy hoang mang và bực bội chứ?

15

Vào đêm trước khi bay sang London, hiếm khi Tạ Bắc Khang không xử lý công việc.

Mà lại đi đến phòng vẽ của Lương Nhược Di.

Đó là một căn phòng kính nằm ở góc phía đông tầng một.

Sau khi kết hôn, phần lớn thời gian của hai người đều là một người ở đông, một người ở tây, ai bận việc nấy.

Về nơi này, ký ức ít ỏi của anh vẫn còn dừng lại ở năm thứ hai sau hôn nhân, khi sửa sang lại căn biệt thự này, lúc Lương Nhược Di nhìn thấy phòng vẽ ấy, ánh sáng bừng lên trong mắt cô.

Đôi mắt ấy rất đẹp, khi thật lòng mỉm cười, cong lên như vầng trăng khuyết rơi đầy sao, khiến người ta bất giác cũng muốn mỉm cười theo.

Cười xong, Tạ Bắc Khang lại khôi phục vẻ tỉnh táo.

Đúng là vẫn chỉ là một cô gái mới bước chân vào xã hội, một phòng vẽ, một món quà nhỏ thôi cũng đủ khiến cô vui đến vậy, anh đã từng nghĩ thế.

Nhưng anh chưa từng nghĩ rằng, cho dù chỉ là con gái riêng của Lương Kình An, thì đến năm hai mươi bốn hai mươi lăm tuổi, số quà Lương Nhược Di từng nhận được cũng đã nhiều không đếm xuể.

Cô vui đến vậy, chẳng qua là bởi vì người chịu dụng tâm với cô, chịu thỏa mãn kỳ vọng của cô, tặng cô một phòng vẽ bằng kính ấy…

Là Tạ Bắc Khang mà thôi.

Đẩy cửa bước vào, bên trong đã được cô dọn dẹp trống không, chỉ còn lại một chiếc bàn vẽ khổng lồ.

Cửa sổ hé mở, trong không khí, mùi sơn màu đã nhạt đến mức gần như không thể ngửi thấy nữa.

Anh đặt laptop lên bàn vẽ, lặng lẽ gõ bốn chữ vào ô tìm kiếm — “Tiếng Vọng Từ Biển Sâu”.

Hàng chục trang tin tức liên quan lập tức tràn ra.

Tán thưởng, kinh ngạc, tiêu đề nào cũng là vô vàn kỳ vọng dành cho bức tranh ấy và cho thiên tài mới nổi này.

Anh nhấp vào một tấm ảnh độ phân giải cao.

Màn hình lập tức bị nuốt trọn bởi sắc xanh sâu thẳm và hùng vĩ, trong lớp màu đẹp đến nghẹt thở ấy là sức sống đang phun trào mãnh liệt.

Trang tiếp theo là video phỏng vấn Lương Nhược Di năm đó.

Trong ống kính, cô gái mặc chiếc sơ mi trắng đơn giản, buộc tóc đuôi ngựa thấp, hàm răng trắng đều, đôi mắt trong sáng, vừa ngây thơ lại vừa rực rỡ.

Cô đối diện ống kính mà trò chuyện lưu loát, tự tin như vậy, chắc chắn như vậy, rực sáng đến chói mắt.

Lương Nhược Di của khi ấy hoàn toàn khác với người vợ luôn im lặng, ngoan ngoãn, thậm chí có phần kín đáo trong ký ức của anh.

Bên ngoài cửa sổ, màn đêm càng lúc càng dày.

Ánh sáng từ màn hình hắt lên gương mặt trước nay vẫn luôn không gợn sóng của anh, soi ra một tia mờ mịt khó lòng nhận ra.

Tính từ ngày kết hôn với Lương Nhược Di đến nay, đã gần bốn năm.

Năm nay, là lần đầu tiên Tạ Bắc Khang thử đi tìm hiểu người vợ chỉ mang cái danh bà Tạ này.

Thế là anh đã nhìn thấy một Lương Nhược Di kinh tài tuyệt diễm trên triển lãm tốt nghiệp.

Anh đã nhìn thấy một Lương Nhược Di khí phách bừng bừng trong buổi phỏng vấn.

Anh đã nhìn thấy một Lương Nhược Di có linh hồn nóng bỏng trong tranh vẽ.

Vào năm thứ tư sau hôn nhân, cuối cùng anh cũng thoáng nhìn thấy con người chân thật của cô.

Mà năm ấy…

Bọn họ vừa mới ly hôn.

16

Tạ Bắc Khang bay sang London đã gần một tháng rồi.

Sự phản phệ cảm xúc mà tôi từng tưởng tượng cũng không dữ dội như dự liệu.

Thậm chí tôi còn cảm thấy, cuộc sống nhẹ nhõm hơn trước rất nhiều.

Giống như trút bỏ được một gông xiềng nặng nề đã đeo suốt bao năm, đến cả bàn tay cầm cọ vẽ cũng trở nên nhẹ đi.

Tối hôm đó, bạn thân hẹn tôi đến một quán bar yên tĩnh uống rượu.

Biết tôi và Tạ Bắc Khang đã làm xong thủ tục ly hôn, cô ấy kinh ngạc đến tròn mắt.

“Cãi nhau à?”

“Anh ấy cảm xúc rất ổn định, nói chuyện lúc nào cũng khách sáo đúng mực.”

“Vậy là mâu thuẫn mẹ chồng nàng dâu?”

“Bố mẹ chồng đối xử với tớ vẫn luôn rất tốt.”

“Chẳng lẽ là… anh ta ngoại tình?!”

“Anh ấy rất bận công việc, hơn nữa tớ tin nhân phẩm của anh ấy.”

Bạn thân hoàn toàn bó tay:

“Vậy rốt cuộc là vì sao chứ?”

Phải rồi, nhà họ Tạ danh giá lừng lẫy, Tạ Bắc Khang cao quý nghiêm cẩn, giữ mình trong sạch.

Lúc tôi lấy anh, ai ai cũng nói tôi số tốt.

Rốt cuộc là vì sao đây?

Tôi chậm rãi nhớ lại một chút.

“Chắc là vì…”

“Anh ấy nói anh ấy sắp sang chi nhánh London thường trú hai năm.”

“Lúc nói với tôi, vé máy bay đã mua xong rồi.”

“Hả? Chỉ vì chuyện đó?”

Tôi không muốn lặp lại rồi nhớ lại thêm nữa những chi tiết dài dòng, vụn vặt của quá khứ, chỉ nhàn nhạt lên tiếng.

“Ừm, chỉ vì chuyện đó.”

Có nhiều chuyện không đủ để nói rõ với người ngoài.

Đối với tôi.

Thứ bào mòn con người nhất trong hôn nhân, chưa bao giờ là những trận cãi vã dữ dội.

Mà là cảm giác mất trọng lượng kéo dài triền miên của việc không được tôn trọng, không được báo cho biết, không được để tâm.

Nhưng tôi đã quá hiểu chính mình rồi.

Thà đau khổ, còn hơn tê liệt.

Bởi vì như thế, con người sẽ dần mất đi năng lực cảm nhận cái đẹp và cái xấu, yêu và được yêu.

Tôi vừa chuẩn bị rời đi.

Cách đó không xa bỗng vang lên một trận náo động.

Nghe tiếng nhìn sang, tôi lại nhìn thấy một cảnh tượng khiến người ta kinh hãi.

17

Ngoài cửa, một nam sinh mặt mũi đầy máu đang bị cảnh sát giữ lại.

Mà nam sinh ấy, đúng lúc lại là học sinh của tôi, Trì Tự.

Tối hôm tôi bị giá vẽ đập trúng chân, cũng chính là cậu ấy cùng mấy bạn học đưa tôi đến bệnh viện.

Tôi bước nhanh tới, nhưng bị chặn ở bên ngoài.

Mắt thấy học sinh bị dẫn đi, tôi quay người tìm đến người pha chế trẻ tuổi đứng sau quầy bar.

Từ góc này có thể nhìn rất rõ ngoài cửa.

“Xin chào, tôi muốn biết lúc nãy ngoài cửa đã xảy ra chuyện gì, anh có thể làm phiền cho tôi biết một chút, hoặc cung cấp camera giám sát được không?”

Anh ta siết chiếc cốc rỗng trong tay, mí mắt còn chẳng buồn nhấc lên:

“Cô là gì của thằng nhóc đó? Tại sao tôi phải nói cho cô biết?”

“Tôi là giáo viên của em ấy.”

“Nếu bị lưu án, có thể sẽ ảnh hưởng đến việc tốt nghiệp.”

Anh ta dừng động tác, sau khi nhìn tôi một lúc, trên gương mặt vốn còn thờ ơ khi nãy mới hiện lên ý cười.

Tôi có chút sốt ruột, rút một nghìn tệ tiền mặt duy nhất trong túi ra đặt mạnh lên quầy bar.

“Có thể làm nhanh một chút được không?”

Người pha chế không động đến số tiền ấy, ngược lại còn đẩy trả về:

“Tôi không lấy tiền của cô, quản lý đã nói sơ qua tình hình cho tôi rồi. Vừa nãy có một người đàn ông cứ hướng về phía cô mà lén chụp 📸, cậu ấy báo cảnh sát, nhìn người đó xóa ảnh xong thì mời người ta ra ngoài. Thằng nhóc kia biết chuyện thì nổi điên lên, ở ngoài cửa đập vỡ đầu người ta, đại khái là vậy đấy. Cô là—” Anh ta nhìn tôi chằm chằm.

“Cảm ơn.” Tôi cầm túi lên rồi quay người đi ngay.

“Này.” Người pha chế gọi tôi lại, “Cầm tiền của cô đi.”

“Cho anh làm tiền tip đấy.”

“Cầm đi đi.” Anh ta vẫn cười híp mắt, giọng không lớn, “Cả quán bar này đều là của tôi, tôi không thiếu chút tiền tip đó của cô.”

Bước chân tôi khựng lại, nhưng không còn thời gian để ngượng ngùng, chỉ vội vàng đẩy cửa bước ra ngoài.

Nhưng tôi không ngờ, thật ra đó cũng không phải lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau.

Đương nhiên, cũng không phải lần cuối cùng.

18

Rời khỏi đồn cảnh sát, Trì Tự bướng bỉnh cúi gằm đầu, các khớp ngón tay sưng đỏ một mảng.

Tôi dẫn cậu vào cửa hàng tiện lợi 24 giờ ở góc phố.

Mua một cốc sữa nóng, rồi lại sang hiệu thuốc bên cạnh mua ít đồ sát trùng đơn giản.

Chúng tôi ngồi trước ô cửa kính sát đất, ngoài cửa sổ đêm khuya thưa vắng, đèn đường kéo ra những quầng sáng thật dài.

Trì Tự vẫn đầy vẻ phẫn uất:

“Cô Lương, em không hối hận.”

“Chỉ là tên khốn đó đến tận ngoài cửa mà mồm miệng vẫn không sạch sẽ. Nếu có thêm lần nữa, em vẫn đánh hắn.”

Chính nghĩa của tuổi trẻ lúc nào cũng như lửa dữ, cháy đến mức bất chấp tất cả.

“Đưa tay ra đây.”

Tôi vặn nắp chai nước lọc, dòng nước chảy qua vệt máu bẩn trên mu bàn tay cậu, khẽ lên tiếng:

“Trì Tự, lúc vẽ tranh, nếu màu nền lỡ bị bẩn thì phải làm sao?”

Cậu khựng lại một chút: “Cạo đi, hoặc phủ lên.”

“Đúng.” Tôi vừa nói, vừa dùng tăm bông cẩn thận chấm iod, nhẹ nhàng chạm lên vết thương.

“Nhưng em sẽ không vì một chỗ bị bẩn mà bẻ gãy cọ vẽ của mình, hoặc hủy cả bức tranh đi, đúng không?”

Tôi mở băng cá nhân, xé bao bì, dán lên chỗ bị thương nặng nhất ở khớp ngón tay cậu.

“Em đã mười chín tuổi rồi, là người trưởng thành, phải học cách phán đoán chuyện gì đáng, chuyện gì không đáng.”

“Đối mặt với tình huống như vậy, rõ ràng em có thể chọn cách xử lý an toàn và thích hợp hơn, nhưng em lại cứ thế bốc đồng, bất chấp cả an nguy của mình, như vậy là không đáng.”

“Huống hồ, đôi tay này sau này còn phải cầm cọ vẽ.”

Nhận mã giảm giá Shopee được cập nhật mỗi ngày.
Dùng phím mũi tên hoặc A/D để chuyển chương

Truyện Hot Đề Cử